Văn mẫu lớp 7 Tập 2

Đề bài: Cảm nhận về bài Ca Huế trên sông Hương

Bài làm

   Việt Nam là đất nước giàu truyền thống văn hóa, lịch sử. Mỗi vùng miền có những nét đặc sắc riêng về văn hóa, Bắc Ninh có quan họ, Tây Nguyên có cồng chiêng… Đến với sông nước Huế mộng mơ ta có ca Huế – nét đặc sắc của người Huế nói riêng và của Việt Nam nói chung. Những nét nổi bật đó đã được phản ánh một cách chi tiết qua văn bản Ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh.

   Ca Huế trên sông Hương là văn bản nhật dụng, tác phẩm đã giới thiệu sự phong phú, đa dạng của ca Huế về nội dung, làn điệu, sự tinh tế trong biểu diễn và thưởng thức. Đây là nét đẹp của cố đô Huế cần được giữ gìn và phát triển.

   Mở đầu tác phẩm là sự khẳng định của Hà Ánh Minh về xứ Huế: “Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò, hò khi đánh cá trên sông ngòi, biển cả, hò lúc cấy cày, gặt hái, trồng cây, chăm tằm” như vậy ta có thể thấy rằng hò là nếp sinh hoạt văn hóa quen thuộc, ăn sâu vào tiềm thức, đời sống của người dân xứ Huế. Không chỉ dừng lại ở đó, với biện pháp liệt kê Hà Ánh Minh còn cho thấy sự đa dạng, phong phú của các điệu hò: chèo cạn, bài thai, hò đưa linh, hò giã dạo, ru em, hò giã vôi, giã điệp,… Có vô vàn các điệu hò khác nhau thể hiện những suy nghĩ, những cung bậc tình cảm của con người và dù điệu hò đó có ngắn hay dài thì nó vẫn luôn thể hiện trọn vẹn một ý tình của người hát.

   Cái hay nhất, đặc sắc nhất chính là phần tác giả nói về hình thức sinh hoạt văn hóa ca Huế được diễn ra trên sông Hương, chỉ cần đọc những nét chữ tài hoa của tác giả ta cũng như được sống trong cái êm ái, dìu dặt của âm nhạc Huế.

   Bằng sự am hiểu của mình, tác giả đã lí giải nguồn gốc của ca Huế được hình thành từ nhạc dân gian (mang âm hưởng sôi nổi, lạc quan) kết hợp với nhạc cung đình (tôn nghiêm, trang trọng, uy nghi). Với sự kết hợp hai yêu tố đối lập tưởng chừng như không thể hòa hợp được với nhau nhưng lại chính là yếu tố làm nên tính chất nổi bật nhất của ca Huế là sự đa dạng về hình thức, phong phú về sắc thái tình cảm.

   Cách thức biểu diễn ca Huế cũng được tác giả mô tả rất chi tiết, cách vào đề vô cùng tự nhiên : “Đêm. Thành phố lên đèn như sao sa. Màn sương dày dần lên, cảnh vật mờ đi trong một màu trắng đục” người lữ khách bước xuống thuyền rồng, hóng mát, ngắm trăng và thưởng thức cái tinh hoa nhất của xứ Huế ấy chính là các làn điệu dân ca. Qua từng chặng, từng lớp lang, Hà Ánh Minh đã cho người đọc thấy được cách thức biểu diễn, công cụ cũng như tâm tư, tình cảm của con người nơi đây được gửi gắm qua mỗi câu hát, lời hò đó.

   Nhạc cụ để chơi ca Huế cũng rất phong phú, bao gồm: đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhị, đàn tam. Ngoài ra còn có đàn bầu, sáo và cặp sanh để gõ nhịp, dàn nhạc thật thanh lịch, tinh tế, mang đậm tính dân tộc. Với những nhạc cụ này cùng với các nhạc công tài hoa đã tạo nên những bài hò đặc sắc, in đậm dấu ấn trong lòng người nghe.

   Biểu diễn các làn điệu Huế còn có sự góp mặt của các ca công, họ đều là những người còn rất trẻ, nam mặc quần thụng, áo the, đầu đội khăn xếp, nữ mặc áo dài, khăn đóng duyên dáng. Các nhạc công sử dụng những ngón đàn trau chuốt như: nhấn, mổ, vỗ, ngón bấm,… trong không gian yên tĩnh những âm thanh ấy hòa quyện vào nhau du dương, trầm bổng, réo rắt khiến cả khung cảnh và con người như bừng tỉnh giấc, làm xao động cõi sâu thẳm nhất trong lòng mỗi con người.

   Để thưởng thức trọn vẹn cái hay cái đẹp của ca Huế, thì lựa chọn khung cảnh cũng hết sức quan trọng. Phải là trên một con thuyền rồng, lênh đênh giữa dòng sông Hương mơ mộng, với ánh trăng trải vàng khắp mọi nơi, không gian huyền ảo, sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền… không gian ấy tạo nên sự cổ kính, trang trọng nhưng đồng thời cũng hết sức hòa hợp với thiên nhiên. Không chỉ vậy không gian đó làm tâm hồn ta thêm thanh tịnh, trong sạch để cảm nhận tất cả những gì tinh túy nhất của ca Huế. Làn điệu ca Huế đa dạng, phong phú khi buồn bã, bi ai khi lại sôi nổi, vui tươi như chính những cung bậc cảm xúc của con người nơi đây.

   Bài viết đã thể hiện những nét nghệ thuật đặc sắc của bút kí kết hợp với nghị luận, miêu tả và biểu cảm của tác giả. Bằng biện pháp liệt kê tác giả đã cho thấy nhiều nét đặc sắc, đặc trưng riêng của làn điệu dân ca xứ Huế. Nhà văn vừa liệt kê vừa kết hợp với bình luận giúp người đọc hình dung rõ hơn về sự phong phú của các làn điệu, sự sâu sắc và tâm hồn con người Huế gửi gắm qua mỗi câu ca, lời hát đó.

   Chỉ với một bài viết ngắn gọn, cô đọng và sâu sắc tác giả đã làm nổi bật những nét đặc sắc của ca Huế. Nét tinh hoa của xứ Huế – ca Huế được gói gọn trong lớp ngôn từ giản dị, mượt mà, nhẹ nhàng giàu tình cảm. Cho thấy tình yêu sâu nặng của tác giả với văn hóa, con người nơi đây.

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài Ca Huế trên sông Hương của tác giả Hà Ánh Minh.

Bài làm

   Ca Huế trên sông Hương là bài bút kí của Hà Ánh Minh, nội dung ghi chép lại một trong những nét đẹp của văn hóa truyền thống ở cố đô Huế là ca Huế. Bài văn vừa giới thiệu về nguồn gốc những làn điệu dân ca Huế, vừa tả cảnh nghe ca Huế trong một đêm trăng. Thông qua sự phong phú, đa dạng của các làn điệu dân ca, tác giả ca ngợi vẻ đẹp tinh thần đằm thắm tha thiết của con người xứ Huế.

   Mở đầu bài viết, tác giả khẳng định Huế nỏi tiếng với làn điệu hò. Sau đó, giới thiệu những nét đặc sắc của ca Huế được thể hiện qua dàn nhạc cụ, qua ngón đàn tuyệt kí của các ca công và giọng hát ngọt ngào của ca nhí.

   Xứ Huế nổi tiếng với những cung điện nguy nga, cổ kính, những lăng tẩm đồ sộ của các tiều vua… Xứ Huế còn nổi tiếng với nhiều sản phẩm văn hóa độc đáo àm ca Huế là một thể loại tiêu biểu.

   Qua bài viết, tác giả đã thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về ca Huế và bày tỏ tình yêu mến, trân trọng dành cho ca Huế:

   Xứ Huế vốn nổi tiếng với các điệu hò, hò đi đánh cá trên sông ngòi, biển cả, hò lúc cày cấy, gặt hái, trồng cây, chăn tằm. Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều được gửi gắm ít ra một ý tình trọn vẹn. Từ ngữ địa phương được dùng nhuần nhuyễn và phổ biến, nhất là trong các câu hò đối đáp tri thức, ngôn ngữ được thể hiện thật tài ba, phong phú.

   Ca Huế đa dạng và phong phú đến nỗi khó có thể nhớ hết tên các làn điệu. Mỗi làn điệu có một vẻ đẹp riêng : Chèo cạn, bài thai, hò dưa linh buồn bã, hò giã gạo, ru em, giã vôi, giã điệp, bài chói, bài tiệm, nàng vung náo nức nồng hậu tình người. Hò lơ, hò ô, xay lúa, hò nện gần gũi với dân ca Nghệ Tĩnh, Hò Huế thể hiện lòng khao khát, nỗi lòng chờ hoài vọng thiết tha của tâm hồn Huế. Ngoài ra còn có các làn điệu lí như : lí con sáo, lí hoài xuân, lí hoài nam.

   Cách giới thiệu kết hợp thật tự nhiên giwuax nghệ thuật miêu tả và biểu cảm. Những hình ảnh chân thức, những nét chấm phá giàu kahwr năng gợi tả đã góp phần làm nổi bật bức tranh sinh hoạt văn hóa đặc sắc của con người xứ Huế. Ca Huế là sự giao hòa giữa dòng nhạc cung đình sang trọng, thanh nhã và dòng nhạc dân gian hồn nhiên, duyên dáng. Sự giao hòa đó thể hiện ở nội dung và hình thức, trong cách biểu diễn của ca nhí, nhạc công và trang phục…

   Tác giả miêu tả khung cảnh tuyệt vời của một đêm ca Huế trên sông Hương. Phông màn là thiên nhiên với bầu trời lồng lộng, với sông nước huyền áo và thơ mọng. Ánh sáng là ánh trăng dát vàng trên mặt sóng. Cảnh vật lung linh, hư ảo:

   Đêm thành phố lên đèn như sao ca, màn sương dày dần lên, cảnh vật mờ đi trong một màu trắng đục. Tôi như một lữ khách thích giang hồ với hồn thơ lai láng, tình người nồng hậu bước xuống một con thuyền rồng, có lẽ con thuyền này xưa kia chỉ dành cho vua chúa. Trước mũi thuyền là một không gian rộng thoáng để vua chúa hóng mát ngắm trăng, giữa một sàn gỗ bào nhẵn có mui vòm được trang trí lộng lấy, xung quanh tuyền có hình rồng và trước mũi là một đầu rồng như muốn bay lên. Đọc những dòng này , chúng ta có cảm giác như người trong cuộc, đang cùng tác giả lênh đênh trên con thuyền lững lờ trôi giữa dòng Hương Giang êm đềm ,thả hồn theo những lời ca mênh mang hòa trong tiếng đàn réo rắt, du dương và tiếng sóng vỗ nhẹ nhàng. Phải chăng khả năng gợi cảm, gợi trí tưởng tượng chính là thành công của bút kí này ?!

   Dàn nhạc cụ, cách thức và trang phục khi biểu diễn dân ca Huế được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ : Trong khoang thuyền, dàn nhạc gồm đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhị, đàn tam. Ngoài ra còn có đàn bầu, sáo và cặp sanh để gõ nhịp. Các ca công còn rất trẻ, nam mặc áo dài the, quần thụng, đầu đội khăn xếp, nữ mặc áo dài, khăn đóng duyên dáng. Ta có thể thấy nét đặc trưng của ca Huế là trang nhã, tinh tế và đậm đà tính dân tộc.

   Cách thưởng thức ca Huế cũng mang tính những tính chất tương tự. Nơi tổ chức nghe ca Huế là trên chiếc thuyền rồng, khoan thai lướt nhẹ giữa dòng sông Hương trong đêm trăng thanh gió mát. Người hát thì hát rất hay, người thưởng thức thì say mê. Khung cảnh biểu diễn ca Huế vừa sang trọng, vừa dân dã, giữa một thiên nhiên thuần khiết và lòng người trong sạch:

   Trăng lên, Gió mơn man dìu dịu, Dòng sông trăng gợn sóng. Con thuyền bồng bềnh. Đêm nằm trên dòng sông Hương thơ mộng để nghe ca Huế, với tâm trạng chờ đợi rộn lòng.

   Không gian yên tĩnh bỗng dưng lên những ấm thanh của dàn hòa tấu, bởi bốn nhạc khúc lưu thủy, kim tiền, xuân phong, long hổ du dương, trầm trồ, réo rắt mở đầu đêm ca Huế. Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt nhưu ngón nhấn, mổ, vỗ, vả, ngón bấm, day, chớp, bùng, ngón phi, ngón rãi. Tiếng đàn lúc khoan lúc nhặt làm nên tiết tấu xao động tận đáy hồn người.

   Xen vào giữa những câu miêu tả là những câu văn thể hiện cảm xúc của tác giả và ca nhạc cung đình, nhã nhạc trang trọng, uy nghi nên có thần thái của ca nhạc thính phòng, thể hiện theo hai dòng lớn điệu Bắc và điệu Nam, với trên sáu mươi tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc. Đặc điểm nổi bật của ca nhạc dân gian là các làn điệu dân ca, những điệu hò, điệu lí thường phản ánh sinh động các cung bậc tình cảm vui buồn của con người. Còn nhạc cung đình là nhạc dùng trong những buổi lễ tôn nghiêm của vua chúa hoặc nơi tông miếu miếu thiêng liêng nên thường có sắc thái trang trọng, uy nghiêm.

   Cuối bài văn, tác giả muốn bạn đọc cảm nhận được sự huyền diệu của ca huế trên sông Hương. Ca Huế khiến người nghe quên cả không gian, thời gian, đắm mình vào trạng thái lâng lâng, xao xuyến khó tả. Ca Huế hướng tâm hướng tâm hồn ta đến những vẻ đẹp của đời sống tinh thần con người xứ Huế. Ca Huế mãi mãi hấp dẫn chúng ta bởi vẻ đẹp bí ẩn, huyền hoặc của nó.

   Đêm đã về khuya. Xa xa bờ bên kia Thiên Mụ hiện ra mờ ảo, ngọn tháp Phước Duyên dát ánh trăng vàng. Sóng vỗ ru mạn thuyền rồi gợn vô hồi xa mãi cùng những tiếng đàn réo rắt du dương. Đấy là lúc ca nhi cất lên những khúc điệu Nam nghe buồn man mác, thương cảm, bi ai, vương vấn như nam ai, nam bình, quả phụ, nam xuân, tương tư khúc, hành vận. Cùng có bản mang âm hưởng điệu Bắc pha phách điệu Nam không vui, không buồn như tứ đại cảnh. Thể điệu ca Huế có sôi nổi, tươi vui, có buồn cảm, bâng khuâng, có tiếc thương ai oán… Lời ca thong thả, trang trọng, trong sáng gợi lên tình người, tình đất nước, trang hiền, gái lịch.

   Nghe tiếng gà gáy bên làng Thọ Cương, cùng tiếng chuông chùa Thiên Mụ gọi năm canh, mà trong khoang thuyền vẫn đầy ắp những lời ca tiếng nhạc.

   Không gian như lắng đọng. Thời gian như ngưng lại. Con gái Huế nội tâm thật phong phú và âm thầm, kín đáo, sâu thẳm.

   Ca Huế thanh cao, lich sự, nhã nhặn, sang trọng và duyên dáng. Chính vì thế nên nghe ca Huế trên sông Hương quả là một thú chơi tao nhã. Ca Huế là một hình thức sinh hoạt âm nhạc mang nét đặc trưng của xứ sở này nên nó rất đáng được trân trọng, bảo tồn và phát triển.

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài Ca Huế trên sông Hương của tác giả Hà Ánh Minh.

Bài làm

   Huế từ lâu đã được ví như là nàng thơ của dải đất Việt Nam bởi những đặc sắc trong lối sống và văn hoá mà không bị pha lẫn bởi nơi nào. Nói đến Huế, bên cạnh hình ảnh những người con dài với chiếc áo dài tìm thướt tha người ta còn nghĩ đến những hoạt động nghệ thuật độc đáo gắn liền với con sông Hương thơ mộng. Trong bút kí của mình, tác giả Hà Ánh Minh đã giới thiệu một trong những nét đẹp của văn hoá truyền thống ở cố đô Huế đó là ca Huế trên sông Hương. Bài văn đã giới thiệu về nguồn gốc của những làn điệu dân ca Huế, vừa tả cảnh nghe ca Huế trong một đêm trăng. Qua đó tác giả đã ca ngợi vẻ đẹp tinh thần thiết tha đặc trưng của con người xứ Huế.

   Không biết từ bao giờ “Xứ Huế vốn nổi tiếng bởi các điệu hò, hò khi đánh cá trên sông ngòi, biển cả, hò lúc cấy cày, gặt hái, trồng cây, chăn tằm. Mỗi câu hò Huế dù ngắn hay dài đều được gửi gắm ít ra một ý tình trọn vẹn. Từ ngữ địa phương được dùng nhuần nhuyễn và phổ biến, nhất là trong các câu hò đối đáp tri thức, ngôn ngữ được thể hiện thật tài ba, phong phú.” Cũng giống như những người dân ở các vùng duyên hải miền Trung, người dân Huế cũng lấy văn nghệ để làm niềm vui, động lực nhằm xua đi những nhọc nhằn trong lao động. Điều này đã trở thành một nét đẹp độc đáo không chỉ ở Huế mà còn ở nhiều vùng đất khác. Tuy nhiên, điệu hò ở Huế vẫn có những nét rất riêng không thể nào trộn lẫn.

   Ca Huế đa dạng và phong phú đến nỗi khó có thể nhớ hết tên của các làn điệu. Mỗi làn điệu lại có những vẻ đẹ rất riêng: chéo cạn, bài thau, hò đưa linh buồn bã,… hò lơ, hò ô xay lúa, hò nện gần gũi với dân ca Nghệ Tĩnh,… các điệu lí như lí con sáo, lí hoài xuân, lú hoài nam”. Bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả và biểu cảm, tác giả đã giới thiệu được một loạt các điệu hát, điệu hò tiêu biểu của dân ca Huế. Mỗi làn điệu dân ca như một lời tâm tình khó bộc bạch bằng lời, chính vì thế ẩn sâu trong đó là những nỗi niềm thầm kín của con người nơi đây. Lắng nghe những giai điệu tha thiết đó, ta hình dung được bức tranh sinh hoạt của một vùng đất yên bình với những con người mang trong mình nhiều điều khắc khoải về khát vọng cuộc sống.

   Điều độc đáo ở các làn điệu dân ca Huế đó là sự kết hợp hài hoà giữa dòng nhạc cung đình sang trọng thanh nhã và dòng nhạc dân gian hồn nhiên, dân giã, trữ tình. Cũng giống như các làn điệu dân ca ở các vùng khác, dân ca Huế được sáng tác bởi các tác giả dân gian nhằm phục vụ cho cuộc sống thường ngày. Chính vì vậy, các làn điệu này thường rất giản dị, bình dân. Tuy nhiên, điểm khác biệt của dân ca Huế là việc được vinh dự trở thành dòng nhạc cung đình. Triều đình nhà Nguyễn chọn đất Huế đóng đô và đã lựa chọn dân ca nơi đây trở thành âm nhạc chính thức của hoàng cung. Lần đầu tiên ta thấy một làn điệu dân ca bình dân được biểu diễn bởi các nghệ nhân chuyên nghiệp. Dàn nhạc cụ, cách thức và trang phục khi biểu diễn dân ca Huế được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ: “trong khoang thuyền, dàn nhạc gồm đàn tranh, đàn nguyệt, tì bà, nhị, đàn tam. Ngoài ra còn có đàn bầu, sáo và cặp sanh để gõ nhịp. Các ca công còn rất trẻ, nam mặc áo dài the, quần thụng, đầu đôi khăn xếp, nữ mặc áo dài , khăn đóng duyên dáng”. Sự mộc mạc trong nội dung kết hợp sự trang trọng trong hình thức biểu diễn đã khiến cho ca Huế vừa giản dị lại vừa thanh cao như chính con người nơi đây.

   Sau khi giới thiệu qua một loạt những làn điệu dân ca Huế, Hà Ánh Minh đã đi sâu miêu tả làn điệu ca Huế trên sông Hương.

   Ca Huế được giới thiệu trong một khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp: “Trăng lên. Gió mơn man dìu dịu. Dòng sông trăng gợn sóng. Cơn thuyền bồng bềnh.” Dường như ở đâu trên mảnh đất Huế thơ mộng này, mọi thứ đều thật nhẹ nhàng và dịu dàng. Con sông Hương hùng dũng chảy từ dãy Trường Sơn khi qua đến đất Huế chẳng biết do đâu lại lững lờ nhẹ nhàng như một thiếu nữ. Ánh trăng vàng cũng trôi chảy theo dòng sông, khung cảnh thơ mộng như trong mơ thật vừa vặn để tâm hồn thưởng thức một món ăn nghệ thuật giá trị khiến cho người nghe “tâm trạng chờ đợi rộn lòng”. Ca Huế được biểu diễn trên chiếc thuyền rồng, khoan thai lướt nhẹ giữa dòng sông Hương trong đêm trăng thanh gió mát. Người hát thì hát rất hay, người thưởng thức thì sành điệu. Không gian biểu diễn trang trọng lại dân giã, từ con người đến cảnh vật xung quanh.

   Những âm thanh độc đáo ấy xuất hiện làm bừng tỉnh cả không gian thiên nhiên và cả con người: “Không gian yên tĩnh bỗng bừng lên những âm thanh của dàn hoà tấu, bởi bốn nhạc khúc lưu thuỷ, kim tiền,… mở đầu đêm ca Huế”. Nhạc công dùng các ngón tay trau chuốt… Tiếng đàn lúc khoan lúc nhặt làm nên tiết tấu xao động tận đáy hồn người”. Tác giả vừa miêu tả, vừa cảm nhận những làn điệu dân ca đó. Những âm thanh trầm bổng, réo rắt với ca từ giàu ý nghĩa đã làm rung động lòng người.

   Hà Ánh Minh cũng lí giải vẻ đẹp của những làn điệu dân ca này là vì: “Ca Huế hình thành từ ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình, nhã nhạc trang trọng uy nghi nên có thần thái của ca nhạc thính phòng. Đây chính là sự lí giải thuyết phục và rõ ràng cho đặc tính vừa giản dị lại vừa trang nhã của loại hình âm nhạc này.

   Cuối tác phẩm, tác giả đã đưa ta về với “khúc điệu Nam nghe buồn man mác, bi ai, vấn vương…”. Đêm là lúc cảm xúc của con người lắng đọng nhất, những thanh âm dung dị nhưng lắng đọng khiến người nghe xao xuyến khó tả, đánh quên cả không gian và thời gian. Và đến lúc này, người nghe mới cảm thấy được ró nhất, sâu nhất cái tình của những làn điệu dân ca của vùng đất này.

   Ca Huế thanh cao, lịch sự, nhã nhặn , âng trọng lại duyên dáng như những người con gái Huế. Vì thế nghe ca Huế quả thật là một thú chơi tao nhã, thể hiện được tầm hiểu biết và thưởng thức của người nghe. Đây là một hình thức sinh hoạt âm nhạc mang nét đặc trưng của xứ sở, chúng ta cần bảo tồn và phát huy để những nét đẹp này còn mãi với non sông.

 

Print Friendly, PDF & Email

Bài giải này có hữu ích với bạn không?

Bấm vào một ngôi sao để đánh giá!

Đánh giá trung bình / 5. Số lượt đánh giá:

Bình luận