Viết bài làm Văn số 3: Văn tự sự

Xem toàn bộ tài liệu Lớp 10: tại đây

Đề bài: Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn. Viết lại câu chuyện đó theo ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba (mở rộng tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ).

A/ Dàn ý chi tiết

I. MỞ BÀI:

– Cây lau ở bến Hoàng Giang tự giới thiệu và câu chuyện định kể.

II. THÂN BÀI: Cây lau kể lại chuyện chứng kiến Vũ Nương than thở rồi tự vẫn.

– Thời gian: Mới tang tảng sáng, khí thu lạnh lẽo…

– Sự việc:

+ Cây lau nghe thấy tiếng khóc tức tưởi rồi nhận ra người khóc là Vũ Nương.

+ Vũ Nương ngồi xuống vạt cỏ cạnh khóm lau, than thở về nỗi oan của mình và trách Trương Sinh đa nghi, nóng giận. Nàng quyết chọn cái chết để rửa sạch nỗi oan; cầu xin trời đất, thánh thần chứng giám cho tấm lòng trong sạch của mình.

+ Vũ Nương gieo mình xuống nước. 

III. KẾT BÀI:

– Bày tỏ cảm xúc thương tiếc khi chứng kiến Vũ Nương tự tử.

B/ Bài văn mẫu

Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn – mẫu 1

Ngày mới đã bắt đầu. Những giọt sương đêm long lanh đọng lại trên kẽ lá. Từng làn gió nhẹ kẽ vờn qua mái tóc tôi. Tôi là cây lau chúng tôi sống bên bờ Hoàng Giang đã bao lâu nay chứng kiến biết bao điều bên dòng sông êm đẹp. Nhưng có lẽ kí ức buổi sáng hôm ấy tôi sẽ không bao giờ có thể quên về người phụ nữ tên Vũ Nương ấy.

Sớm hôm ấy tôi đang thả mình trong làn gió mát lành của sớm mai thì chợt thấy tiếng người phụ nữ vừa khóc vừa chạy từ xa chạy về phía bờ sông. Tiếng khóc ấy càng lúc càng gần. Tôi nhìn rõ gương mặt ấy khi nàng ngồi bệt xuống bên cạnh đám lau chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều nhận ra khuôn mặt đẹp đẽ đẫm nước mắt ấy chính là Vũ Nương, người vẫn thường ra đây lấy nước và giặt giũ quần áo hàng ngày. Gương mặt nàng hiện rõ vẻ mệt mỏi. Tiếng khóc nấc cứ liên tục và dồn dập hơn trước, đôi vai mỏng manh ấy cứ run lên từng đợt, nàng ngồi bệt dưới đám cỏ ướt, tay bụm miệng khóc liên hồi. Tôi thấy nàng thật tội nghiệp, xót xa hình dáng gầy gò, ốm yếu khác hẳn vẻ hoạt bát, vui vẻ thường ngày. Nàng cứ ngồi đấy khóc nức nở như muốn trút bỏ hết tất cả những uất ức trong lòng kìm nén bao nay. Nàng khóc thay cho số phận mình. Nàng nhìn dòng nước đau đớn trút nỗi uất ức của mình. Nàng bắt đầu giãi bày nỗi lòng mình như muốn tìm được sự đồng cảm cho mình:

– Cầu xin đấng thượng đế trên cao hãy làm chứng cho tấm lòng sắc son của Vũ Nương này. Những ngày tháng qua tôi luôn một lòng, một dạ chờ người chồng nơi chiến trận trở về, mong sớm thấy ngày gia đình đoàn viên. Suốt ba năm trời ngóng trông chờ đợi, khi mẹ già lâm bệnh, con lại chạy đôn chạy đáo lo đủ chuyện thuốc thang mà vẫn không sao cứu được. Mẹ mất đi, con mất một nguồn động viên, quan tâm, chia sẻ. Ngay lúc ấy con đã tự nhắn nhủ mình: Phải nuôi hy vọng cố gắng chăm sóc con thật tốt đợi ngày chồng trở vể. Con là người luôn biết giữ gìn tiết hạnh, một lòng một dạ chờ chồng. Nhưng trớ trêu thay chồng con lại không tin vào trinh tiết của con. Cho dù con có thanh minh, thề thốt như thế nào chàng ấy vẫn không tin, vì sao vậy?

Tôi sống nơi con sông này bao nhiêu năm qua đã từng nghe và chứng kiến bao nhiêu truyện đời nhưng có lẽ câu chuyện của nàng làm tôi không khỏi xót xa. Tôi biết nàng qua những lần nàng đến đây giặt quần áo, qua những câu chuyện mà những người phụ nữ ngôi làng vừa giặt đồ vừa ngồi trò chuyện. Nàng là người con gái hiền lành, là người con dâu hiếu thảo, một người mẹ mẫu mực, luôn yêu thương chăm lo cho con cái. Chồng nàng đi lính đã bao năm, nàng một mình tần tảo sớm khuya chăm lo mẹ già con nhỏ. Mẹ nàng đã già yếu, nàng luôn quan tâm chăm sóc thuốc thang,  làm đúng bổn phận trách nhiệm của một người con. Mẹ hiền dâu thảo lại sống tình nghĩa nên nàng được mọi người yêu quý. Vậy mà chồng nàng trở về lại nghĩ nàng là người phụ nữ hư đốn. Đến người ngoài như tôi còn không dám tin điều này. Sao nàng có thể như vậy cơ chứ. Làn gió khẽ thoáng qua tôi theo làn gió đưa mình như muốn nói với nàng là tôi tin nàng. Thế rồi tôi thấy nàng lau nước mắt, ngửa mặt lên trời nói rằng: “Trời cao chứng giáng cho lòng con” . Nói đoạn, nàng gieo mình xuống dòng nước. Tôi đứng đó chỉ có thể nhìn thấy nàng đau đớn mà không thể làm gì được cả. Mặt sông lại lặng thinh như chưa có chuyện gì xảy ra.

Cả cuộc đời sống ở bên sông, chứng kiến dòng đời bao thay đổi với cả nỗi buồn lẫn niềm vui. Có những chuyện tôi đã quên, có những chuyện tôi còn nhớ nhưng không có chuyện nào tê tái như cái chết của Vũ Nương. Nghe hết câu chuyện ấy, tôi vừa giận anh chồng, lại vừa thương cho người vợ. Họ yêu thương nhau rồi lại tự gây những đau đớn cho nhau. Bao năm đã trôi qua, nỗi oan của Vũ Nương cũng đã được chính người chồng kia giải. Nhưng cũng nỗi đau vẫn còn đó, Trương Sinh mất đi người vợ đảm, bé Đản mất đi người mẹ hiền, và Vũ Nương dù có được giải oan cũng không thể sống lại.

Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn – mẫu 2

Tôi là một cây lau sắp đến tuổi trở về cát bụi. Thế nên có nhiều chuyện tôi muốn kể lại cho con cháu đời sau của mình vì sợ một lúc nào đó tôi sẽ chẳng thể nhớ nỗi mình là ai. Sống từng ấy thời gian trên cõi trần, chuyện vui buồn gì cũng từng chứng kiến nhưng câu chuyện về cái chết của Vũ Nương là câu chuyện khiến tôi ghi khắc trong lòng.

Bến sông Hoàng Giang từ bao đời nay vẫn yên bình và thơ mộng. Dưới sông có tôm cá vẫy đuôi, trên cạnh có hàng lao xanh rì rào trong gió và ven bờ sông là họ nhà lau, cỏ, lục bình. Chúng tôi vẫn sống yên vui trước cảnh mưa thuận gió hòa. Người dân vùng này tôi đều nhớ mặt cả bởi vì ai mà lại chưa từng qua con sông này để sang bên kia chợ hoặc chày lưới, câu cá trên sông. Tôi từng chứng kiến cảnh chia ly buồn thảm của những người lính đi đánh giặc và những người vợ của họ ngay tại bến sông này. Nhưng sự đời mãi đến 3 năm sau mới hiểu rõ lòng người. Cái anh chàng tên Trương Sinh gia đình giàu có nhất vùng ai lại không biết đến. Sau 3 năm chinh chiến, anh ấy đã quay về với vợ con. Tôi vẫn nghe mấy chị thuyền chài nói với nhau chẳng ai tốt số như chàng Trương, có vợ vừa đẹp người, đẹp nết lại thủy chung, hiếu thảo. Ngày anh ta đi biền biệt, chỉ mình vợ quán xuyến mọi việc, lo lắng cho bà cụ và nuôi dạy con thơ. Khi biết tin Trương Sinh về, ai cũng mừng thầm cho long phụng sum vầy, vợ chồng đoàn viên. Vậy mà chỉ mới hôm sau tôi đã thấy Vũ Nương ra bờ sông than thở. Đêm ấy chắc cũng tầm canh hai, tôi thấy bóng người phụ nữ mặc áo dài trắng và xõa tóc đến ngồi cạnh bờ sông. Ánh trăng sáng soi gương mặt chẳng chút phấn son nhưng vẫn xinh đạp lạ thường. Duy chỉ có đôi mắt là buồn rười rượi. Tôi chẳng lạ gì người phụ nữ nổi tiếng nhất làng này, mặc dù chẳng gặp gỡ nhiều nhưng trong lòng tôi luôn có cảm tình và quý mến Vũ Nương. Vũ Nương ngước mặt lên trời mà rằng:

– Thiếp là Vũ Thị Thiết người làng Nam Xương, xưa nay vẫn giữ gìn tiết hạnh, lúc còn nhỏ hiếu thuận với mẹ cha, khi về nhà chồng thủy chung với chồng, hiếu đạo với mẹ chồng, thay chồng báo hiếu mẹ già, nuôi con nhỏ. Vậy mà chồng thiếp lại nóng nảy, ghen tuông mù quáng chỉ vì lời nói đùa với con trẻ. Thiếp có nói bao nhiêu lần cũng không thể lay động lòng chàng ấy. Thần sông ơi, thiếp phải làm sao để rửa sạch nỗi oan khuất này!

Tôi nín lặng lắng nghe lời tâm sự của nàng mà lòng cũng quặn thắt. Tôi đoán được câu chuyện nhưng chẳng thể lên tiếng sẻ chia cùng nàng ấy. Nói đoạn, Vũ Nương đứng dậy quay về phía sau, nơi có ngôi nhà mà nàng từng gắn bó:

– Trương Sinh chàng, giá mà không có chiến tranh, chàng không ra đi thì đã không xảy ra tình huống thế này. Không, giá mà thiếp đã không đùa với con cái bóng của thiếp in trên vách hàng đêm là cha nó thì đâu có cớ sự trớ trêu. Nếu chàng lắng nghe mọi người minh oan cho thiếp hay chàng chịu tin tưởng thiếp một lần thì mọi chuyện sẽ chẳng đến bước cùng đường.

Vũ Nương ngồi thụp xuống, hai tay ôm lấy chiếc áo của con mình mà rằng:

– Đản ơi, mẹ chẳng trách con đâu, con còn ngây thơ quá, con nào có tội. Mẹ chỉ trách bản thân mình không thể sống cùng con khi tiếng đời mai mỉa, chịu tiếng nhuốc nhơ. Chắc gì con sẽ vui mà lớn lên khi có người mẹ mang tiếng lừa chồng dối con như mẹ. Mẹ xin lỗi con trai, lớn lên con hãy là người đàn ông bản lĩnh và độ lượng, con phải yêu thương người vợ thủy chung của mình.

Nói xong, Vũ Nương quay mặt vái lạy thần sông:

– Thiếp sẽ lấy cái chết để minh oan cho mình. Thần sông có linh xin hãy chứng giám cho thiếp. Nếu thiếp là người vợ thủy chung thì xin được chết xuống sông làm ngọc Mị Nương, trên đất làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá xin dưới nước làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ.

Lời nàng vừa dứt, nàng đã lặng lẽ tự trầm. Tôi muốn hét thật to để níu bước chân người phụ nữ vô tội nhưng thượng đế chẳng bao giờ cho phép chúng tôi điều đó. Bóng nàng khuất dười mấy tầng đáy nước. Tôi chỉ biết cúi đầu cầu nguyện thần sông linh thiên cứu vớt linh hồn nàng. Năm ấy, giữa lúc trời đất thái bình, bỗng nổi lên cơn bão táp, mưa giông suốt mấy ngày trời, nước sông dâng lên cuồn cuộn. Mọi người trong làng đều thầm hiểu là do thần sông nổi giận vì có người tốt bị hàm oan.

Kể xong câu chuyện, lòng tôi bỗng thấy nhẹ nhõm lạ thường như vừa trút khỏi nỗi u uất bấy lâu nay. Nghĩ mà thương cho thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến chúng tôi, họ có được gì đâu ngoài những định kiến khắt khe và bao nhiêu gánh nặng trên vai. Nếu có một điều ước, tôi ước gì sẽ chẳng còn một người phụ nữ nào trên đời này phải khổ sở vì thói gia trưởng, ích kỷ của đàn ông nữa.

Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn – mẫu 3

Tôi là cây lau nhỏ sống bên bờ con sông Hoàng Giang. Họ nhà lau chúng tôi đã sinh sống trên bờ Hoàng Giang cả triệu năm rồi. Gia tộc tôi đã trải qua bao nhiêu thế hệ tôi cũng không thể nhớ. Nhưng gia đình tôi thường có thói quen truyền kể cho nhau nghe những “chuyện đời” xáy ra ở trên sông mà các thế hệ cha ông của chúng tôi từng chứng kiến. Bao nhiêu năm đã trôi qua và cũng đã quá già để nhớ về mọi chuyện, thế nhưng tôi vẫn còn nhớ như in cái ngày bi kịch đến với người thiếu phụ Vũ Nương.

Tôi nhớ ngày ấy như in. Tôi thường có thói quen thức rất khuya để khỏa mình trong nước, đung đưa thân mình theo chiều gió. Nước sông Hoàng Giang rất lặng và dịu mát. Sáng sớm, mặt trời mới chỉ lấy ló sau lặng tre, sương đêm lấp lánh phủ trên ngọn cây. Thỉnh thoảng vài chú cá kiếm mồi sớm vươn thân mình quẫy đuôi khỏi mặt nước,

Đang thả hồn mình theo ngọn gió, chợt tôi bỗng giật mình khi chợt nghe có tiếng ai đang nức nở. Tôi nín lặng lắng nghe. Tiếng khóc ngày một rõ hơn. Không nghi ngờ gì nữa (tôi nghĩ), chắc có ai đó đang gặp một chuyện gì đó rất đau thương. Hóa ra là Vũ Nương, người phụ nữ sống ở xóm chài bên sông. Thường ngày chị ấy vẫn cùng các bà các mẹ các cô trong làng ra đầu sông giặt giũ. Người phụ này vốn rất hiền lành, mọi người trong làng ai cũng yêu quý. Có mấy lần tôi nghe thấy những người phụ nữ trong làng thường nhắc đến chị. Do cha mẹ sắp xếp, nên chị kết hôn cùng Trương Sinh, một chàng trai vốn tính đa nghi, hay ghen trong làng. Kết hôn không được bao lâu, chồng chị đi linh, mọi công việc dồn hết lên đôi vai người phụ nữ. Chị yêu con, thương chồng, chăm sóc mẹ chồng chu đáo thuốc thang cho mẹ lúc bệnh tất. Cả xóm làng ai cũng cảm phục con người chị. Tôi vẫn thường nghe mọi người tấm tắc khen chị mẹ hiền dâu thảo. Không biết vì sao chị lại khóc như thế. Vừa khóc chị vừa than rằng:

– Con lạy trời lạy đất, lạy hà bá dưới lòng sông! Thân con sao khổ quá. Những mong ngày chồng chinh chiến xa về là ngày gia đình đoàn viên sum họp. Vậy mà cái mong ước ấy giờ tan như mây như khói. Bao năm qua con đã phải chịu muôn ngàn cay đắng. Chồng đi chiến trận nơi xa, một mình con tần tảo chăm mẹ già nuôi con nhỏ. Rồi đến khi mẹ già lâm bệnh, con lại chạy đôn chạy đáo lo đủ chuyện thuốc thang mà vẫn không sao cứu được. Mẹ mất đi, con mất một nguồn động viên, quan tâm, chia sẻ. Ngay lúc ấy con đã phải tự nhắn nhủ mình: Phải nuôi hy vọng. Tất cả mọi điều tốt đẹp, con đã dành cho bé Đản thương yêu. Bao hy vọng được mẹ con con nuôi lớn từng ngày, vậy mà giờ đây ông trời lại gây cảnh trớ trêu mà cướp đi của con tất cả. Con còn sống để làm chi…

Tôi nghe những lời than thở mà xót xa thay. Sống ở bên sông, tôi đã chứng kiến bao điều nhưng chưa bao giờ thấy chuyện nào đau lòng như vậy. Đằng sau những câu nói sầu não đến nát lòng kia hẳn phải là một bi kịch lớn. Tôi băn khoăn lắm nhưng chưa kịp suy đoán điều gì thì người đàn bà kia lại khóc:

– Bé Đản, con yêu của mẹ ! Mẹ thật có lỗi với con khi mẹ bỏ đi giữa lúc này. Nhưng mẹ đâu có thể chọn được một con đường nào khác. Cha đã nghi ngờ sự thủy chung của mẹ con ta. Vậy là bao công lao của chúng ta, cha con đố đi cả. Mẹ không thể sống mãi trong sự ngờ vực của cha con. Mẹ không thể có lỗi với bà và chấp nhận những gì xấu xa mà mình không có. Mẹ có sự thủy chung và trinh tiết. Mẹ phải giữ được sự trong sạch của trong ánh mắt của những người hàng xóm. Mẹ không thể sống. Mẹ sẽ chết để thức tỉnh sự ghen tuông mù quáng của cha con. Đản thương yêu! Mẹ xin lỗi con vì tất cả.

Sau câu nói ấy, mặt nước bắt đầu khua động mạnh. Tôi giật mình và bàng hoàng nhận ra người đàn bà đang dấn thân về phía lòng sông. Yêu thương và oán giận. Nhưng chỉ là một cây lau nhỏ bé, tôi không thể làm được gì hơn. Nước bắt đầu dâng lên đến ngang người rồi đến gần hết cánh tay người phụ nữ. Người đàn bà đau khổ đã quyết trầm mình để giải những oan khiên. Bờ sông Hoàng Giang vẫn lặng. Gió vẫn thổi mát rượi nhưng trăng đã khuất. Không gian tĩnh mịch đến ghê người khiến tôi vẫn nghe và nghe rất rõ những lời trăng trối cuối cùng của người phụ nữ khốn khổ kia.

– Trương Sinh chàng hỡi! Chàng đã phụ công của thiếp. Như một đứa trẻ thơ nghịch một trò chơi mà không cần suy nghĩ, chàng đã coi thường sự thủy chung của thiếp. Nay tình chồng nghĩa vợ đã chẳng thể dài lâu, thiếp chỉ mong sau cái chết này chàng có thể thấy nỗi đau mà thức tỉnh. Chàng hãy chăm sóc cho con, hãy nuôi dạy để cho nó được nên người.

– Con xin lạy ngài hà bá. Con là Vũ Nương. Nay vì bị oan mà phải chọn tìm cái chết để giải mối oan tình. Thân này đã nguyện dâng cho hà bá. Nhưng con chỉ mong nếu thực lòng thủy chung son sắt thì xin cho được giái mối oan tình những mong chàng Trương thức tỉnh. Nhược bằng con đây có chút tư tình thì xin hà bá cứ đầy ải mãi mãi dưới tầng địa ngục.

Mặt sông Hoàng Giang đã lặng thinh. Tôi không còn nghe bất cứ một lời nói hay một âm thanh nào nữa. Vậy là hà bá đã đón người phụ nữ kia đi nhẹ nhàng nhưng chắc chắn không thanh thản.

Cả cuộc đời sống ở bên sông, chứng kiến dòng đời bao thay đổi với cả nỗi buồn lẫn niềm vui. Có những chuyện tôi đã quên, có những chuyện tôi còn nhớ nhưng không có chuyện nào tê tái như cái chết của Vũ Nương. Nghe hết câu chuyện ấy, tôi vừa giận anh chồng, lại vừa thương cho người vợ. Họ yêu thương nhau rồi lại gây những đau đớn cho nhau. Bao năm đã trôi qua, nỗi oan của Vũ Nương cũng đã được chính người chồng kia giải. Thế nhưng cho đến tận hôm nay tôi vẫn không hiểu được con người thật vĩ đại và cao cả biết bao nhưng tại sao vẫn có những lúc họ ích kỷ và nhỏ nhen làm vậy?

Cây lau chứng kiến việc Vũ Nương ngồi bên bờ Hoàng Giang than thở một mình rồi tự vẫn – mẫu 4

Lúc ấy trời chuẩn bị hừng đông, những giọt sương đêm qua vẫn còn đọng lại trên thân chúng tôi. Cũng như những cây Lau khác, tôi đang run rẩy bởi cái lạnh và hi vọng lát nữa mặt trời lên sẽ được sưởi ấm. Phía đằng kia, dòng Hoàng Giang chầm chậm trôi xuôi như còn đang chìm trong giấc ngủ sâu. Bỗng một cơn gió nhẹ lướt qua làm những giọt sương trên thân tôi rơi xuống, trong tiếng gió tôi nghe hình như có tiếng ai đó đang khóc. Khi cơn gió vừa dứt, chúng tôi – đám lau – lắng tai nghe, đúng là có tiếng người nào đó đang khóc ở phía xa đang dần tiến lại.

Tiếng khóc càng lúc càng gần, chỉ trong khoảnh khắc bóng của ai đó đã tiến lại gần hơn. Gương mặt của người ấy đã rõ hơn khi nàng ngồi bệt xuống bên cạnh đám lau chúng tôi. Không phải ai xa lạ, đó chính là Vũ Nương, người vẫn thường ra đây giặt giũ quần áo hằng ngày. Nhưng thật lạ, vì sao hôm nay nàng ấy chỉ đến một mình mà đứa con trai không lẽo đẽo đi sau? Vả lại, giờ này tại sao lại ra đây một mình và khóc nữa chứ?

Tiếng nấc cứ liên tục, đôi vai mỏng manh không áo ấm cứ run lên từng đợt, nàng ngồi bệt dưới đám cỏ ướt, tay bụm miệng khóc liên hồi. Tôi thấy nàng rất tội nghiệp, cố gắng hỏi han nhưng nàng không hề nghe thấy những gì chúng tôi đang bàn tán. Bỗng nàng vụt đứng dậy hướng về phía đông mà than rằng:

– Cầu xin đấng trên cao hãy làm chứng cho tấm lòng sắc son của Vũ Nương này. Những ngày tháng qua tôi luôn mong ngóng người chồng nơi chiến trận sẽ sớm trở về, được sớm thấy ngày gia đình đoàn viên. Thế nhưng, mong ước ấy của tôi dường như tan biến chỉ trong chốc lát. Suốt ba năm trời, tôi không một ngày ngừng mong chờ đến ngày chồng trở về mà tần tảo không nề hà khó khăn để chăm sóc người mẹ già và đứa con thơ. Luôn giữ gìn tiết hạnh một lòng một dạ chờ chồng nào dám có ý nghĩ lang chạ với ai. Lời dỗ dành đứa con thơ đòi cha lúc chỉ bóng mình in trên vách dưới ánh đèn hiu hắt “Cha Đản về kìa!” mà thành ra nông nỗi như thế này. Mặc dù Trương Sinh rất yêu thương tôi nhưng tính chàng ấy rất đa nghi. Cho dù tôi có thanh minh, thề thốt như thế nào chàng ấy vẫn không tin, vì sao vậy? Mọi việc đều không thể cứu vãn được nữa, chỉ biết gieo mình xuống sông để mong rửa sạch những lời hàm oan.

Trước khi chết,tôi xin có một lời nguyền : “Nếu tôi đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con,dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”.

Nghe đến đây, tôi cảm thấy đau xót cho người thiếu phụ. Những ngày qua chúng tôi sống ở bờ sông đã chứng kiến bao cảnh éo le nhưng chưa bao giờ thấy một chuyện đau lòng đến thế này. Lời than vãn bị ngắt đoạn bởi những tiếng nấc oan ức, tôi cảm thấy nàng ấy thật tội nghiệp và biết rằng đằng sau nó là một bi kịch lớn. Nếu như có thể tôi chỉ muốn khuyên vài lời với người thiếu phụ. Trong lúc tôi và những người hàng xóm đang băn khoăn chưa kịp suy đoán điều gì thì nàng ấy lại khóc nức nở:

– Đản! Con trai yêu quý của mẹ! Mẹ thật có lỗi với con khi bỏ đi giữa lúc này. Nhưng mẹ không còn sự lựa chọn nào khác khi cha con hoài nghi sự chung thủy của mẹ. Mẹ không thể sống thêm được nữa khi cha con luôn ngờ vực mẹ như vậy. Mẹ hi vọng rằng con sẽ được nuôi nấng trưởng thành như bao đứa trẻ khác. Mẹ có lỗi với con khi không làm tròn trách nhiệm của một người mẹ. Thiết nghĩ cái chết này có thể mang đến cho con nhiều nỗi bất hạnh nhưng chỉ có thể làm như vậy để rửa sạch nỗi oan này thôi con à.

Vừa dứt lời, nàng leo nhanh lên mõm đá gần đấy quay mặt về phía sau nói câu cuối cùng:

– Trương Sinh, thiếp có lỗi với chàng, với con trai chúng ta

Chúng tôi giật mình và bàng hoàng khi nàng gieo mình xuống nước. Mặt nước đang yên tĩnh bị động và nổi sóng dâng cao. Cả đám lau chúng tôi chết lặng trước sự việc mà không thể làm gì hơn. Có lẽ lúc này, mọi đau khổ không còn giày vò người thiếu phụ đáng thương này nữa. Chúng tôi cảm thấy oán giận người chồng mù quáng kia vô cùng, nhưng biết làm gì đây khi chúng tôi chỉ là những cây lau bé nhỏ bên bờ Hoàng Giang. Lúc này không gian trở nên tĩnh mịch và lạnh lẽo đến ghê người. Không biết rồi người thiếu phụ khốn khổ kia sẽ trôi dạt theo dòng nước hay đã chìm vào không gian lạnh lẽo ảm đạm dưới đáy sông.

Ít ngày sau, đám lau chúng tôi nghe người dân trong làng đi ngang kể lại rằng đứa con của Vũ Nương trong những đêm sau đó đã chỉ lên tường nơi bóng của người cha mà nói “Cha Đản về kìa”. Trường Sinh đã thấu hiểu mọi chuyện và rất đau lòng bởi chính mình gây ra cái chết của người vợ đoan chính nết na.

Một buổi chiều tối kia, theo lời vợ báo mộng Trương Sinh lập đàn tế Vũ Nương ven bờ sông. Chúng tôi cũng được chứng kiến mọi việc khi một lát sau có một đoàn xe ngựa, võng lọng ẩn hiện thấp thoáng giữa dòng sông. Vũ Nương nói vọng vào những lời thương nhớ và căn dặn chồng săn sóc chu đáo đứa con thơ. Thoáng chốc,tất cả mờ dần rồi tan biến hẳn. Cảm thương tấm lòng của Vũ Nương, dân làng đã lập miếu thờ nàng ngay cạnh khóm lau, nơi nàng ngồi than thở trước khi trầm mình xuống Hoàng Giang.

 

Bài giải này có hữu ích với bạn không?

Bấm vào một ngôi sao để đánh giá!

Đánh giá trung bình 5 / 5. Số lượt đánh giá: 1110

Chưa có ai đánh giá! Hãy là người đầu tiên đánh giá bài này.

--Chọn Bài--

Tài liệu trên trang là MIỄN PHÍ, các bạn vui lòng KHÔNG trả phí dưới BẤT KỲ hình thức nào!

Tải xuống