Văn mẫu lớp 12 Tập 2

Xem toàn bộ tài liệu Lớp 12: tại đây

Đề bài: Tóm tắt truyện (đoạn trích) “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” của nhà văn Sơn Nam.

Bài làm

    Một hôm có người ăn ong ở Khánh Lâm chạy về báo tin lạ và dữ là tại ngọn rạch Cái Tàu có một cái ao sấu: sấu nhiều như trái mù u chín rụng.

    Tiếng đồn đại lan truyền khắp vùng. Chỉ mấy hôm sau có một ông già đến Khánh Lâm bằng chiếc xuồng ba lá nhỏ, trong xuồng chỉ có một lọn nhang trần và một hũ rượu.

    Chiếc xuồng cứ bơi lên bơi xuống dọc theo con sông, từ sáng sớm tới chiều. Ông lão cất tiếng hát não nùng: “Hồn ở đâu đây? – Hồn ơi! Hồn hỡi! – Xa cây xa cối – Xa cội xa nhành – Đầu bãi cuối gành – Hùm tha, sâu bắt,…”. Bà con rước ông lên bờ. Đó là ông Năm Hên, thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo. Ông không câu sấu mà bắt sấu trên khô, bắt sấu bằng hai tay không. Ông bắt sấu là để trả thù cho người anh đã bị sấu bắt ở Ngã Ba Đình. Ông không lừa gạt ai để xin tiền bạc cơm gạo, ông không màng phú quới.

    Hôm sau, Tư Hoạch dẫn đường ông Năm Hên lên tận ngọn rạch Cái Tàu, tìm đến tận ao sấu ở giữa rừng. Trên một cái ao rộng độ một công đất um tùm lau sậy, dây cóc kèn, sấu già, sấu chúa, sấu nằm, sấu bò,… có con to như chiếc xuồng lường, có con ngỏng mỏ lên trời như họng súng thần công, đại bác, có con trợn mắt bò tới bò lui,…

    Ông Năm Hên đi vòng quanh ao sấu dòm địa thế một lúc rồi ngồi xuống uống rượu ung dung. Nhờ Tư Hoạch bứt cho một nắm dây cóc kèn để chuẩn bị trói sấu; còn ông tự tay đào một đường nhỏ để dẫn sấu bò lên. Ông chặt mốp thành từng khúc để chuẩn bị đút vào mõm sấu. Xong đâu đấy, ông đốt lửa hun khói đổ lùa bầy sấu trong ao bò lên. Sấu hung hãng đòi táp liền bị ông đút móp vào mõm, dùng mác cắt gân đuôi, lấy dây cóc kèn trói sấu. Bắt hết con này đến con khác, có cả sấu chúa mang đốm đỏ giữa tam tinh, đã từng nhiều phen “kịch chiến” với loài người.

    Quá ngọ, bà con Khánh Lâm từ xa nhìn lên chỉ thấy một làn khói đen bốc lên ở ngọn Cái Tàu, nhưng chỉ một chập sau thì thấy khói lụn xuống. Trời vừa xế, Tư Hoạch ngồi trên xuồng kéo theo một đàn sấu 45 con “con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòm như một khúc cây khô”. Ông Năm Hên ngồi trên chiếc xuồng ba lá, áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay, cất tiếng gọi hồn ai oán: “Hồn ở đâu đây?- Hồn ơi! Hồn hỡi! – Xa cây xa cối – Xa cội xa nhành – Đầu bãi cuối gành – Hùm tha, sấu bắt,…”. Bà con làng Khánh Lâm kéo ra đứng chật bên bờ sông để nhìn ông Năm Hên và bầy sấu…

Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn Phân tích chuyện Bắt sấu rừng u minh hạ của Sơn Nam.

Bài làm

   Miền Nam không chỉ xuất hiện trong truyện những đứa con tỏng gia đình của Nguyễn Thi với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn xuất hiện lại một lần nữa trong truyện bắt sấu rừng U Minh hạ của Sơn Nam. Nhà văn Sơn Nam cũng đã một lần nữ ca ngợi vẻ đẹp của con người Nam Bộ khi phải đối diện với những khó khăn của thiên nhiên nơi đây. Thiên nhiên càng hoang sơ, nguy hiểm biết bao nhiêu thì con người hiện lên càng đẹp biết bao nhiêu. Vẻ đẹp ấy được thể hiện rất rõ qua nhan vật ông Năm Hên.

   Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một truyện ngắn in trong tập truyện Hương rừng Cà Mau (NXB Phù Sa, Sái Gòn, 1962). Toàn tập gồm 18 truyện, thể hiện sinh động cảnh quan, đời sống, truyền thống lịch sử và phẩm chất tính cách con người ở mảnh đất cực nam của chúng ta. Tác giả giúp người đọc hiểu và yêu Hòn Cổ Tron, sông Gành Hào, đàn ong mật, những đêm hát bội giữa rừng, cuộc đua ghe ngo, v. v… nổi bật trên bức tranh dân dã quê hương đó là những người nông dân đôn hậu, chất phác, chân thật, dũng cảm ; những người đổ mồ hôi và đổ máu để khai phá và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và cho Tổ Quốc.

   Câu chuyện nổi bật lên hình ảnh thiên nhiên cực nam vô cùng nguy hiểm. Câu truyện như tái hiện lại toàn cảnh thiên nhiên vùng U Minh hạ cũng như cảnh sinh hoạt, mưu sinh của người dân nơi đây. Thiên nhiên hiểm trở đó chính là thiên nhiên rừng xanh nước độc ấy – rùng U Minh, đặc biệt trong chốn rừng thiêng ấy còn có cả đàn sấu. Những con cá sấu nguy hiểm đã giết hại biết abo nhiêu người dân nơi đây. Họ phải vào rừng để kiếm ăn kiếm kế sinh nhai nhưng ở đó cũng có thể địa ngục của họ nếu như họ gặp đàn sấu ấy. Chúng to khỏe và nguy hiểm khiến ai là dân trong vùng ấy đều sợ, họ chỉ biết khóc lóc thương tiếc những người thân xấu số của mình chứ chưa ai dám động đến chúng “nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Ðó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ? “. đã vậy ở dòng sông ấy, rừng U Minh ấy còn có rất nhiều loại động thực vật phong phú và đa dạng.

   Nói đến đàn cá sấu chúng không thích những nơi sóng gió mà chúng lại leo lên hẳn ngọn nguồn để sinh sống đặc biệt ở những đoạn hẹp của sông U Minh, những nơi ấy thường là chỗ mưu sinh của người dân Nam Bộ. Thế mà giờ thành nơi sinh sống và địa bàn của chúng chẳng khác nào mang thức ăn đến cho chúng nhưng biết làm sao khi người dân nơi đây sống nhờ rừng U Minh ấy, đã vậy họ nổi tiếng là những người sống trên nước “nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhất. Có điều đáng chú ý là chúng không thích những chốn sông nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật hẹp. Vùng U Minh hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Ðốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm…”.

   Về số lượng của đàn cá xấu tác giả miêu tả thật rõ nét, thật chính xác qua câu “– Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng !”. đây là một phép so sánh vô cùng hay. Tác giả không dùng biện pháp phóng đại nói quá mà như trong tác phẩm thì người dân ở đây khi đứng lên trên cao nhìn xuống ngoài cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn ra thì toàn là những lưng con cá sấu hiện lên thành những vệt đen chi chít. Chúng còn ở đó thì người dân miền nam không thể yên ổn làm ăn được. Có thể nói chúng là mối nguy hiểm lớn nhất của người dân nơi đây.

   Đàn cá sấu ấy không chỉ đông đảo về số lượng mà chúng còn rất khôn lanh “…con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cá. Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui. Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa” sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài người. Khi ở trên cạn, sấu khôn nguy hiểm bàng nột con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toàn dụ địch thủ vào hang của no ù nơi nước sâu. ” Tác giả miêu tả thật sống động những hoạt động của đàn cá sấu khôn lanh và đồng thời qua đó chúng ta thấy nếu không xử lý được chúng thì còn nhiều người dân nữa biến thành thức ăn của chúng.

   Trước những khó khăn ấy nhưng con người nơi đây vẫn đến đây để lập nghiệp và họ cứ đinh ninh rằng đàn cá sấu kia đã giảm bớt lượng đi phàn nào. Có mười thì chắc chán là bảy phẩn chết còn ba phần. thế nhưng chúng vẫn đông đảo lắm. tuy vậy họ không lùi bước họ tìm cách để đánh bại con vật ghê gớm kia. “Trong số những người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông, lao, ná lẫy, nhưng họ dư hiểu rằng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp, heo rừng, đằng này, sấu lại là loài ở nước, ở bùn lầy. Chống xuồng vào thì quá cạn còn đi bộ xuống thì lún ngập gối. ” thế rồi giữa những khó khăn ấy xuất hiện ông Năm Hên một ngươi gan dạ và có một chiến thuật để đánh bại đàn cá xấu ấy. Và đặc biệt chính kế hoạch và tài trí của ông đã tiêu diệt lũ cá sấu ấy chả lại một U Minh hiền lành cho mọi người dân đến đây lập nghiệp. Sự khôn khéo cũng như sức khỏe kiên cường của ông biểu tượng cho người dân sông nước Miền Nam.

   Cảnh bắt cá xấu hiện lên thật đầy nguy hiểm cũng thật hấp dẫn người đọc bởi sự khôn khéo và tài tình của ông Năm Hên. Đi theo ông còn có Tư Hoạch. Ban đầu mọi người không tin ông Năm có thể giết bắt đàn cá xâu nhưng sự thật thì ông có thể. “tới ao sấu, ông Năm hên đi vòng quanh dòn địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc. lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy để trong ao. Chập sau, bị khói cay mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng : như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sấu bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ông Năm xách cây mác nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Ðuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình” tất cả những chi tiết ấy đã chứng minh sức khỏe cũng như tài trí của ông Năm Hên. Chuyện bắt cá sấu kết thúc tốt đẹp với hình ảnh “Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòn như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng…”

   Ông Năm Hên trở vè trong sự vui mừng khôn xiết của những người dân nơi đây họ cảm ơn ông. Và trước khi ông đi, ông không quên thắp một nén nhang cho những người đã khuất. Điều đó cho thấy ông Năm Hên là một người rất trọng tình nghĩa.

   Qua đây ta càng thêm yêu những con người miền nam của tổ quốc. Đặc biệt ta cũng thấy được rừng U Minh lúc hoang so ban đầu nguy hiểm như thế nào, thiên nhiên không chỉ mang lại nguồn thức ăn, sự sinh nhai mà còn có cả những loại động vật nguy hiểm như đàn sấu này nữa. Tuy nhiên những con người ấy vẫn kiên cường vượt qua khó khăn và chiến thắng thiên nhiên hoang sơ một cách oanh liệt. Và nhân vật ông Năm Hên đại diện cho vẻ đẹp của những người dân Nam Bộ ấy.

Đề bài: Phân tích truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” của nhà văn Sơn Nam.

Bài làm

    Sơn Nam là nhà văn Nam Bộ giàu bản sắc, có một phong cách nghệ thuật độc đáo, dung dị, hồn nhiên. Đọc truyện của ông, ta tưởng như đang ngồi nghe một lão nông miệt vườn, một tay ăn ong rừng kể chuyện. Có nhà phê bình đã nói, đọc truyện “Hương rừng Cà Mau” như được đi “thăm thú vùng đất Mũi kì thú mênh mông”. Ta như được vui vầy sống giữa một thiên thiên hoang dã. Rừng tràm bát ngát, nhiều ong mật, cá sấu, rắn rùa, đủ các loài chim quý. Kênh rạch chằng chịt, lắm nước bạc, nhiều phù sa, đầy tôm cá. Một vùng đất giàu có với những con người dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, ngang tàng, bộc trực,… rất đáng yêu. Tất cả được Sơn Nam tạo nên một không gian nghệ thuật với bao câu chuyện kì thú hấp dẫn, đậm đà màu sắc Nam Bộ, cuốn hút chúng ta. Thấm đượm những trang văn của Sơn Nam là một tấm lòng yêu nước thiết tha, một tình yêu thương chan hòa với thiên nhiên và con người của đất rừng phương Nam Tổ quốc giàu đẹp.

    Truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” là một trong số 18 truyện rút trong tác phẩm “Hương rừng Cà Mau” xuất bản năm 1967. Tác giả kể lại chuyện ông Năm Hên bắt sấu ở ngọn rạch Cái Tàu tại địa phận làng Khánh Lâm, qua đó ca ngợi những phẩm chất như chất phác, dũng cảm, tài tử và trọng nghĩa khinh tài… của người nông dân Nam Bộ…

    Phần đầu truyện, Sơn Nam nói về loài sấu. Nó là giống “hung hăng nhất” ở nơi sông rạch. Giống sấu chỉ thích nơi yên tĩnh, chật hẹp của ngọn cùng, không thích chốn sông sâu, nước chảy, có sóng gió. Sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch Cái Tàu, vào giữa rừng tràm vùng u Minh Hạ. Sấu thích ăn thịt người, nhưng tôm cá là “món ăn chính” của nó. Mùa nắng hạn rừng khô, sấu tìm đến các ao, các lung giữa rừng tràm mà lập “căn cứ” rồi “sanh con đẻ cháu”.

    Câu chuyện càng trở nên hấp dẫn qua tình tiết khi có người lên rừng ăn ong chạy về loan báo: “Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng!”. Chất hoang dã của rừng tràm, của rạch Cái Tàu, vẻ rùng rợn của câu chuyện được gợi ra bằng một câu loan báo nhiều ngạc nhiên và hoảng sợ vì sấu rất hung dữ lại “thích ăn thịt người!”.

    Sơn Nam miêu tả sấu, đàn sấu bằng những chi tiết rất gợi, những hình ảnh đầy màu sắc. Giữa một cái ao lớn ước một công đất toàn lau sậy, dây cóc kèn là đàn sấu nổi lên “những vệt đen chi chít” giữa “bức tranh màu xanh” của rừng tràm, của cây lá. Đàn sấu được đặc tả bằng những so sánh gợi lên cảm giác rùng rợn như khi ta phải đối diện với loài vật hoang dã rất hung dữ và thích ăn thịt người. Có những con sấu to lớn “nằm dài như chiếc xuồng lường” (thuyền độc mộc). Lại có những con sấu rất cảnh giác, hung hăng “dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngỏng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác”. Con sấu già, sấu chúa “trợn mắt” nhìn lũ người, phản ứng tinh khôn “bò thối lui vào giữa lòng ao, để thủ thế”. Sấu chúa có đốm đỏ ngay giữa tam tinh, sống lâu đời, khôn lắm, nó đã nhiều phen “kịch chiến” với loài người, nó toan dụ địch thủ vào hang của nó nơi nước sâu. Có thể nói bức tranh sấu được Sơn Nam vẽ bằng một gam màu đen nổi bật trên màu xanh của rừng với ba nét vẽ về ba con sấu: sấu nằm, sấu bò, sấu trợn mắt. So sánh nào cũng độc đáo, giàu tưởng tượng. Một thiên nhiên hoang dã, rùng rợn, kì thú. Sơn Nam đã mở rộng tầm nhìn, đem đến cho ta những hiểu biết kì lạ, thú vị về thiên nhiên vùng đất mũi bao la chứa đựng bao bí mật.

    Ông Năm Hên là nhân vật trung tâm của truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”. Nhân vật xuất hiện bất ngờ, đúng là con người “có kì tài”. Ông là thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo. Ông đến vùng Khánh Lâm, ngọn rạch Cái Tàu bằng một chiếc xuồng ba lá nhỏ, trong xuồng “vẻn vẹn một lọn nhang trần và một hủ rượu”. Năm Hên xuất hiện bằng một bài hát nghe “ảo não, rùng rợn” như một bài cầu hồn. Tiếng hát của ông lão vang lên trên con rạch theo nhịp bơi xuồng tới lui từ sớm tới chiều: “Hồn ở đâu đây? Hồn ơi? Hồn hỡi? – Xa cây xa cối – Xa cội xa nhành – Đầu bãi cuối gành – Hùm tha, sấu bắt…”. Bài hát gợi lên màu sắc bi tráng của thiên truyện, góp phần gợi tả tính chất kì bí của nhân vật Năm Hên.

    Năm Hên xuất hiện với bao mong đợi của bà con vùng Khánh Lâm. Chẳng có vũ khí, chẳng có đồ nghề… Một đoạn đối thoại rất hay để giới thiệu Năm Hên là thợ bắt sấu chứ không phải tay câu sấu. Và ông ta chỉ “bắt sấu trên khô”, bắt sấu “bằng… hai tay không”. Tuy bà con vùng Khánh Lâm “nửa tin nửa nghi” nhưng ai nấy đều khâm phục người “bắt sấu bằng tay không quả là phi phàm, thế gian hi hữu”. Ông Năm Hên chẳng phải là một kẻ khoác lác mà là con người đi bắt sấu vì việc nghĩa, chưa hề “nói láo để lường gạt” hoặc “mở miệng xin tiền bạc cơm gạo gì” của xóm Khánh Lâm này, của bất cứ ai. Đó là hình ảnh một con người trọng nghĩa khinh tài sống giữa cộng đồng bà con nông dân Nam Bộ xưa và nay. Ông nói: “Nghề bắt sấu có thể làm giàu được, ngặt tôi không mang thứ phú quới đó”. Tiếng nói ông Năm Hên, cách ứng xử của ông trong nghề bắt sấu khác nào tâm thế ông Ngư trong “Truyện Lục Vân Tiên” của cụ Đồ Chiểu ở thế kỉ XIX:

    Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ

    Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn.

    Nước trong rửa ruột sạch trơn

    Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”.

    Con người của Nam Hên được hé lộ dần. Ông mang một nỗi đau, một mối thù đối với loài sấu hung dữ. Mười hai nãm về trước, người anh trai của ông đi phá rừng lập rảy tại Gò Quao, đã bị sấu ở Ngã Ba Đình bắt mất. Ông đi bắt sấu là để thực hiện một lời thề với vong linh người anh, như ông nói: “Tôi thề quyết trả thù cho anh”, ở đâu có sấu là ông đi tới. Ông “cực lòng” khi nghe tên những con rạch, ngã ba mang tên Đầu Sấu, Lưng Sấu, Bàu Sấu…, đó là những “nơi ghê gớm”, hồi xưa đất còn hoang “sấu lội nhiều”… Vùng đất dữ đó, nhiều người mới chỉ nghe nói đến đã ghê sợ, rụng rời cả chân tay.

    Ông Năm Hên đi bắt sấu ở ngọn Cái Tàu chỉ có một mình, có thêm Tư Hoạch dẫn đường vào ao sấu. Quá ngọ thấy một làn khói đen bốc lên ở phía ao sấu u Minh Hạ, ban đầu ngỡ cháy rừng, chập sau khói lụn xuống. Trời vừa xế, Tư Hoạch đã giong 45 con sấu “còn sống nhăn” trở về. Tư Hoạch reo lên: “Diệu kế! Diệu kế!… Một đời người mới có một lần”. Nhìn đàn sấu “con này buộc nối đuôi con kia đen ngòm như khúc cây khô, dài… hai chân thúc ké trên lưng…” quạt nước bơi theo con thuyền Tư Hoạch, bà con cô bác Khánh Lâm vô cùng ngạc nhiên. Người thì “há miệng sửng sốt rồi toan chạy vào nhà trốn”, người thì “khấn vái lâm râm…”, có người lại bơi xuồng ra giữa sông hỏi han Tư Hoạch “rối rít”.

    Nhà văn Sơn Nam đã khéo léo “hãm chuyện”, cho bà con xứ Khánh Lâm nhìn thấy đàn sấu bị bắt đem về, rồi mới nghe Tư Hoạch kể lại chuyện ông Năm Hên bắt sấu, để làm cho câu chuyện trở nên hồi hộp, thú vị. Đến ao sấu ông Năm Hên đi vòng quanh dòm địa thế, rồi ngồi xuống uống rượu thật ung dung. Ông chỉ nhờ Tư Hoạch bứt cho một nắm dây cóc kèn để trói sấu. Còn bao nhiêu công việc như đào một đường nhỏ từ ao sấu lên rừng đến chuyện chặt mốp thành từng khúc, từ chuyện đốt sậy để xua dàn sấu đến chuyện đút khúc mốp vào miệng sấu, lấy mác cắt gân đuôi và trói sấu… một mình ông làm tất. Cả bầy sấu 45 con đéu bị ông Năm Hên bắt hết không sót một con nào! Đúng như ông nói: “Tôi đây… chẳng qua là biết mưu mẹo một ít…”. Bà con xứ Khánh Lâm thì trầm trồ, khâm phục: “Thực là bực thánh của xứ này rồi? Mưu kế như vậy thực quá cao cường!…”. Cả xóm muốn “đền ơn ổng một số tiền, nuôi ổng cho tới già”… Ông Năm Hên không chỉ mưu trí dùng hỏa công để lùa sấu theo kế “điệu hổ li sơn”, dẫn sấu vào tử lộ, dùng mốp để khóa miệng sấu, mà ông còn rất dũng cảm khi đối diện với đàn sấu hung hăng đòi táp. Ông đã bình tĩnh đút từng khúc mốp vào miệng lũ sấu dữ hung hăng.

    Nhà văn để ông Năm Hên “cúng đất đai vương trạch” rồi đi bộ về phía sau là một tình tiết đặc sắc tung và hứng rất chặt chẽ. Lần thứ hai, tiếng hát cầu hồn của ông Năm Hên lại cất lên nghe ảo não, rùng rợn:

    Hồn ở đâu đây?

    Hồn ơi! Hồn hỡi!…

    Cùng với tiếng hát cầu hồn, giải oan, là hình ảnh ông Năm Hên “áo vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay “… gợi lên không khí thiêng liêng, dân dã, kì bí, cổ kính. Người đọc cảm thấy những oan hồn bị “hùm tha, sấu bắt” đang kéo về bến sông nhìn đàn sấu bị ông Năm Hên bắt và khóc sụt sùi. Hình như có biết bao oan hồn đang chập chờn trên sông nước, đang chạy theo chiếc xuồng ba lá của ông Năm Hên.

    Truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” có dáng dấp riêng, khó lẫn. Chi tiết rất gợi không khí hoang dã, ngôn ngữ đậm đà màu sắc Nam Bộ, cách dựng truyện li kì. Nếu thiếu đi bài hát cầu hồn, câu chuyện sẽ kém phần thiêng liêng, cổ kính và kì bí. Hình ảnh ông Năm Hên, một thợ già bắt sấu dũng cảm, mưu trí, trọng nghĩa khinh tài, chất phác… cho ta nhiều ấn tượng. Ông là hình ảnh người nông dân Nam Bộ đi bắt sấu để chinh phục thiên nhiên, vì hạnh phúc con người và quê hương. “Bắt sấu U Minh Hạ” như một đoản thiên phiêu lưu kí sáng giá.

Đề bài: Phân tích bài “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” của Sơn Nam.

Bài làm

   Sơn Nam là một nhà văn có lối kể chuyện mộc mạc, giản dị mà sang rõ mang nét riêng độc đáo của cảnh vật, tính cách con người được vẽ phác bằng đôi nét đơn sơ mà thấm đượm màu sắc Nam Bộ. Tiêu biểu cho phong cách ấy là tác phẩm “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”, nhà văn đã dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác qua cuộc truy bắt cá sấu của ông Năm Hên.

   Câu chuyện xoay quanh nhân vật Năm Hên – một ông già làm nghề bắt cá sấu. Năm Hên mang đậm nét tính cách của người dân Nam Bộ trong buổi đầu đi tìm đất mới để sinh cơ lập nghiệp. Trước hết, ông là một người thật thà, đôn hậu, giản dị, khiêm tốn. Tuy cung cách xuất hiện của ông rất lạ: “Trong xuồng, vỏn vẹn có một lọn nhang trần và một hũ rượu. Từ sớm đến chiều, ông bơi xuồng tới lui theo con rạch mà hát”. Lại nữa, bài hát ông nhe sao “ảo não rùng rợn” như thể đang dụ dỗ một linh hồn oan khuất nào đó. Nhưng khi thấy bà con có vẻ nghi ngờ, thiếu tin tưởng về cách bắt sấu bằng tay không của mình, ông Năm Hên đã thật thà bộc bạch: “Tôi đây không tài giỏi chi hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như người khác thì họ nói là bù phép đê kiếm tiền…”

   Ông là một người trọng nghĩa khinh tài. Là một con người thật thà, đôn hậu, ông Năm Hên hành động vì nghĩa, không mang lợi lộc gì cho mình. Ông tâm sự: “Nghề bắt sấu có thể làm giàu được, ngặt tôi không màng thứ phú quý đó”. Người đọc hiểu ra, khi mới đến đây xưng tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, ông đã cải chính cách gọi về nghề nghiệp của mình là “bắt sấu” chứ không phải “câu sấu” là thể hiện sự ẩn giấu một niềm tự hào thầm kín về công việc của mình, một công việc hoàn toàn vì nghĩa. Ông thấy việc cần là làm, thấy người hoạn nạn là không ngại hiểm nguy ra tay giúp đỡ, chẳng chút tính toán thiệt hơn: “không màng thứ phú quý đó”.

   Ông còn là một người tài trí hơn người. Cảnh bắt sấu của ông được Tư Hoạch kể lại quả thật tài tình: “lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy đế trong ao. Chập sau, bị khói cay vào mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy… Ổng đút vô miệng sâu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng: như mình ngậm một khúc mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được… Ông Năm xách cây mác, nhắm ngay sau lưng sấu ,mà sắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Đuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dâu cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình…” Nghe chuyện này có người đã nhận xét: “Thực là bậc thánh nhân của xứ này rồi! Mưu kế như vật quả thực cao cường”.

   Cũng qua lời tuồng thuật của Tư Hoạch, ai cũng thất rõ ông Năm Hên là người rất dũng cảm. Phải dũng cảm mới giữ vững được thái độ bình tĩnh trước loài cá sấu dữ mà chẳng chút nao lòng “sợ sấu há miệng hung hăng đòi táp”. Chính nhờ lòng dũng cảm, bình tĩnh, nên ông đã đánh bại được đàn cá sấu ăn thịt người. Bốn muôi lăm con cá sấu bị ông thòng cổ cho người xuôi chở về. Loài thủy quái ấy ngoan ngoãn phục tùng cứ như là đã được thuần dưỡng rồi vậy. Với lòng dũng cảm, ông thục sự đã trở thành anh hùng cửa vùng đất hoang dại này.

   Ông còn là một người mang tâm sự u uất. Hãy nghe ông bày tỏ gia cảnh: “Cha mẹ tôi sanh ra chỉ có hai anh nem tụi tôi… Ảnh bị cá sấu ở Ngã ba Đình bắt mất”. Đây là một tổn thất lớn lao đối với ông. Bởi vậy ông thề quyết trả thù cho anh mình. Mười hai năm trôi qua, mối t hù ấy vẫn chưa giờ phút nào nguôi trong lòng ông. Cảnh cá sấu xuất hiện ở rừng nhiều như trái mù u chín rụng lúc này đã gợi lên trong lòng ông một nỗi đau nhức nhối tâm can, một nỗi cực lòng như chính ông đã chân thành bộc bạch với dân làng. Tâm sự đó ông gửi vào lời hát:

    “Hồn ở đâu đây?

    ……

    Lập đàn giải oan….”

   Bài hát của ông Năm Hên đã tạo không khí bí hiểm và có phần rùng rợn cho câu chuyện. Nhà văn miêu tả giọng hát của ông ảo não, rùng rợn: “Tiếng như khóc lóc, nài nỉ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai”. Nội dung bài hát buồn thảm không chỉ là nỗi tiếc thương của ông đối với người anh xấu số của mình mà đó còn là tiếng chiêu hồn tưởng nhớ đến, gọi về biết bao mảnh hồn người xa xứ vì “thắt ngặt manh áo chén cơm” Giữa Cảnh “U Minh hạ đỏ ngòm, rừng tràm xanh biếc” đã phải thiệt mạng cho “hùm tha, sấu bắt…” Hình ảnh thảm thương đầy bí ẩn của ông ở cuối truyện, sau khi bắt được đàn sấu: “áo rách vai, tóc rối mù, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay”, cứ tưởng như ông đang nhập đồng. phải chăng ông thay mặt cho dân làng ở đây hát lên bài kinh “cầu siêu”, tựa như lời gọi hồn giải oan cho những linh hồn bị “hùm tha sấu bắt”, cho biết bao oan hồn uổng tử đã vất vưởng lang thang nơi “đầu bãi, cuối gành” trong cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn bao đời nay cho cư dân ở đây.

   Qua truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”, chúng ta có dịp hiểu thêm về thiên nhiên vùng đất Nam Bộ – nơi vốn được coi là rừng vàng bể bạc với những cánh đồng lúa mênh mang thẳng cánh cò bay, là tài sản vô giá của đất nước Việt Nam… Chúng ta cũng hiểu thêm về cuộc sống tài trí, tính cách của người dân ở đây và công lao của họ đối với việc mở mang bờ cõi đất nước.

Đề bài: Phân tích truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” của nhà văn Sơn Nam.

   Miền Nam không chỉ xuất hiện trong truyện những đứa con tỏng gia đình của Nguyễn Thi với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà còn xuất hiện lại một lần nữa trong truyện bắt sấu rừng U Minh hạ của Sơn Nam. Nhà văn Sơn Nam cũng đã một lần nữ ca ngợi vẻ đẹp của con người Nam Bộ khi phải đối diện với những khó khăn của thiên nhiên nơi đây. Thiên nhiên càng hoang sơ, nguy hiểm biết bao nhiêu thì con người hiện lên càng đẹp biết bao nhiêu. Vẻ đẹp ấy được thể hiện rất rõ qua nhan vật ông Năm Hên.

    Bắt sấu rừng U Minh Hạ là một truyện ngắn in trong tập truyện Hương rừng Cà Mau (NXB Phù Sa, Sái Gòn, 1962). Toàn tập gồm 18 truyện, thể hiện sinh động cảnh quan, đời sống, truyền thống lịch sử và phẩm chất tính cách con người ở mảnh đất cực nam của chúng ta. Tác giả giúp người đọc hiểu và yêu Hòn Cổ Tron, sông Gành Hào, đàn ong mật, những đêm hát bội giữa rừng, cuộc đua ghe ngo, v. v… nổi bật trên bức tranh dân dã quê hương đó là những người nông dân đôn hậu, chất phác, chân thật, dũng cảm ; những người đổ mồ hôi và đổ máu để khai phá và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và cho Tổ Quốc.

    Câu chuyện nổi bật lên hình ảnh thiên nhiên cực nam vô cùng nguy hiểm. Câu truyện như tái hiện lại toàn cảnh thiên nhiên vùng U Minh hạ cũng như cảnh sinh hoạt, mưu sinh của người dân nơi đây. Thiên nhiên hiểm trở đó chính là thiên nhiên rừng xanh nước độc ấy – rùng U Minh, đặc biệt trong chốn rừng thiêng ấy còn có cả đàn sấu. Những con cá sấu nguy hiểm đã giết hại biết abo nhiêu người dân nơi đây. Họ phải vào rừng để kiếm ăn kiếm kế sinh nhai nhưng ở đó cũng có thể địa ngục của họ nếu như họ gặp đàn sấu ấy. Chúng to khỏe và nguy hiểm khiến ai là dân trong vùng ấy đều sợ, họ chỉ biết khóc lóc thương tiếc những người thân xấu số của mình chứ chưa ai dám động đến chúng “nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Ðó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ? “. đã vậy ở dòng sông ấy, rừng U Minh ấy còn có rất nhiều loại động thực vật phong phú và đa dạng.

    Nói đến đàn cá sấu chúng không thích những nơi sóng gió mà chúng lại leo lên hẳn ngọn nguồn để sinh sống đặc biệt ở những đoạn hẹp của sông U Minh, những nơi ấy thường là chỗ mưu sinh của người dân Nam Bộ. Thế mà giờ thành nơi sinh sống và địa bàn của chúng chẳng khác nào mang thức ăn đến cho chúng nhưng biết làm sao khi người dân nơi đây sống nhờ rừng U Minh ấy, đã vậy họ nổi tiếng là những người sống trên nước “nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhất. Có điều đáng chú ý là chúng không thích những chốn sông nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tịnh, chật hẹp. Vùng U Minh hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Ðốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm…”.

    Về số lượng của đàn cá xấu tác giả miêu tả thật rõ nét, thật chính xác qua câu “– Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng !”. đây là một phép so sánh vô cùng hay. Tác giả không dùng biện pháp phóng đại nói quá mà như trong tác phẩm thì người dân ở đây khi đứng lên trên cao nhìn xuống ngoài cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn ra thì toàn là những lưng con cá sấu hiện lên thành những vệt đen chi chít. Chúng còn ở đó thì người dân miền nam không thể yên ổn làm ăn được. Có thể nói chúng là mối nguy hiểm lớn nhất của người dân nơi đây.

    Đàn cá sấu ấy không chỉ đông đảo về số lượng mà chúng còn rất khôn lanh “…con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cá. Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui. Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh. Nó là “sấu chúa” sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài người. Khi ở trên cạn, sấu khôn nguy hiểm bàng nột con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toàn dụ địch thủ vào hang của no ù nơi nước sâu. ” Tác giả miêu tả thật sống động những hoạt động của đàn cá sấu khôn lanh và đồng thời qua đó chúng ta thấy nếu không xử lý được chúng thì còn nhiều người dân nữa biến thành thức ăn của chúng.

    Trước những khó khăn ấy nhưng con người nơi đây vẫn đến đây để lập nghiệp và họ cứ đinh ninh rằng đàn cá sấu kia đã giảm bớt lượng đi phàn nào. Có mười thì chắc chán là bảy phẩn chết còn ba phần. thế nhưng chúng vẫn đông đảo lắm. tuy vậy họ không lùi bước họ tìm cách để đánh bại con vật ghê gớm kia. “Trong số những người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông, lao, ná lẫy, nhưng họ dư hiểu rằng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp, heo rừng, đằng này, sấu lại là loài ở nước, ở bùn lầy. Chống xuồng vào thì quá cạn còn đi bộ xuống thì lún ngập gối. ” thế rồi giữa những khó khăn ấy xuất hiện ông Năm Hên một ngươi gan dạ và có một chiến thuật để đánh bại đàn cá xấu ấy. Và đặc biệt chính kế hoạch và tài trí của ông đã tiêu diệt lũ cá sấu ấy chả lại một U Minh hiền lành cho mọi người dân đến đây lập nghiệp. Sự khôn khéo cũng như sức khỏe kiên cường của ông biểu tượng cho người dân sông nước Miền Nam.

    Cảnh bắt cá xấu hiện lên thật đầy nguy hiểm cũng thật hấp dẫn người đọc bởi sự khôn khéo và tài tình của ông Năm Hên. Đi theo ông còn có Tư Hoạch. Ban đầu mọi người không tin ông Năm có thể giết bắt đàn cá xâu nhưng sự thật thì ông có thể. “tới ao sấu, ông Năm hên đi vòng quanh dòn địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy xuổng đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ bờ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ổng biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi, chặt ra khúc chừng ba tấc. lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy để trong ao. Chập sau, bị khói cay mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. Ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng : như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sấu bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ông Năm xách cây mác nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Ðuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình” tất cả những chi tiết ấy đã chứng minh sức khỏe cũng như tài trí của ông Năm Hên. Chuyện bắt cá sấu kết thúc tốt đẹp với hình ảnh “Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòn như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc ké trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng…”

    Ông Năm Hên trở vè trong sự vui mừng khôn xiết của những người dân nơi đây họ cảm ơn ông. Và trước khi ông đi, ông không quên thắp một nén nhang cho những người đã khuất. Điều đó cho thấy ông Năm Hên là một người rất trọng tình nghĩa.

    Qua đây ta càng thêm yêu những con người miền nam của tổ quốc. Đặc biệt ta cũng thấy được rừng U Minh lúc hoang so ban đầu nguy hiểm như thế nào, thiên nhiên không chỉ mang lại nguồn thức ăn, sự sinh nhai mà còn có cả những loại động vật nguy hiểm như đàn sấu này nữa. Tuy nhiên những con người ấy vẫn kiên cường vượt qua khó khăn và chiến thắng thiên nhiên hoang sơ một cách oanh liệt. Và nhân vật ông Năm Hên đại diện cho vẻ đẹp của những người dân Nam Bộ ấy.

   Sơn Nam là nhà văn Nam Bộ giàu bản sắc, có một phong cách nghệ thuật độc đáo, dung dị, hồn nhiên. Đọc truyện của ông, ta tưởng như đang ngồi nghe một lão nông miệt vườn, một tay ăn ong rừng kể chuyện. Có nhà phê bình đã nói, đọc truyện “Hương rừng Cà Mau” như được đi “thăm thú vùng đất Mũi kì thú mênh mông”. Ta như được vui vầy sống giữa một thiên thiên hoang dã. Rừng tràm bát ngát, nhiều ong mật, cá sấu, rắn rùa, đủ các loài chim quý. Kênh rạch chằng chịt, lắm nước bạc, nhiều phù sa, đầy tôm cá. Một vùng đất giàu có với những con người dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài, ngang tàng, bộc trực,… rất đáng yêu. Tất cả được Sơn Nam tạo nên một không gian nghệ thuật với bao câu chuyện kì thú hấp dẫn, đậm đà màu sắc Nam Bộ, cuốn hút chúng ta. Thấm đượm những trang văn của Sơn Nam là một tấm lòng yêu nước thiết tha, một tình yêu thương chan hòa với thiên nhiên và con người của đất rừng phương Nam Tổ quốc giàu đẹp.

    Truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” là một trong số 18 truyện rút trong tác phẩm “Hương rừng Cà Mau” xuất bản năm 1967. Tác giả kể lại chuyện ông Năm Hên bắt sấu ở ngọn rạch Cái Tàu tại địa phận làng Khánh Lâm, qua đó ca ngợi những phẩm chất như chất phác, dũng cảm, tài tử và trọng nghĩa khinh tài… của người nông dân Nam Bộ…

    Phần đầu truyện, Sơn Nam nói về loài sấu. Nó là giống “hung hăng nhất” ở nơi sông rạch. Giống sấu chỉ thích nơi yên tĩnh, chật hẹp của ngọn cùng, không thích chốn sông sâu, nước chảy, có sóng gió. Sấu thường đi ngược sông Ông Đốc, rạch Cái Tàu, vào giữa rừng tràm vùng u Minh Hạ. Sấu thích ăn thịt người, nhưng tôm cá là “món ăn chính” của nó. Mùa nắng hạn rừng khô, sấu tìm đến các ao, các lung giữa rừng tràm mà lập “căn cứ” rồi “sanh con đẻ cháu”.

    Câu chuyện càng trở nên hấp dẫn qua tình tiết khi có người lên rừng ăn ong chạy về loan báo: “Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng!”. Chất hoang dã của rừng tràm, của rạch Cái Tàu, vẻ rùng rợn của câu chuyện được gợi ra bằng một câu loan báo nhiều ngạc nhiên và hoảng sợ vì sấu rất hung dữ lại “thích ăn thịt người!”.

    Sơn Nam miêu tả sấu, đàn sấu bằng những chi tiết rất gợi, những hình ảnh đầy màu sắc. Giữa một cái ao lớn ước một công đất toàn lau sậy, dây cóc kèn là đàn sấu nổi lên “những vệt đen chi chít” giữa “bức tranh màu xanh” của rừng tràm, của cây lá. Đàn sấu được đặc tả bằng những so sánh gợi lên cảm giác rùng rợn như khi ta phải đối diện với loài vật hoang dã rất hung dữ và thích ăn thịt người. Có những con sấu to lớn “nằm dài như chiếc xuồng lường” (thuyền độc mộc). Lại có những con sấu rất cảnh giác, hung hăng “dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngỏng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác”. Con sấu già, sấu chúa “trợn mắt” nhìn lũ người, phản ứng tinh khôn “bò thối lui vào giữa lòng ao, để thủ thế”. Sấu chúa có đốm đỏ ngay giữa tam tinh, sống lâu đời, khôn lắm, nó đã nhiều phen “kịch chiến” với loài người, nó toan dụ địch thủ vào hang của nó nơi nước sâu. Có thể nói bức tranh sấu được Sơn Nam vẽ bằng một gam màu đen nổi bật trên màu xanh của rừng với ba nét vẽ về ba con sấu: sấu nằm, sấu bò, sấu trợn mắt. So sánh nào cũng độc đáo, giàu tưởng tượng. Một thiên nhiên hoang dã, rùng rợn, kì thú. Sơn Nam đã mở rộng tầm nhìn, đem đến cho ta những hiểu biết kì lạ, thú vị về thiên nhiên vùng đất mũi bao la chứa đựng bao bí mật.

    Ông Năm Hên là nhân vật trung tâm của truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”. Nhân vật xuất hiện bất ngờ, đúng là con người “có kì tài”. Ông là thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo. Ông đến vùng Khánh Lâm, ngọn rạch Cái Tàu bằng một chiếc xuồng ba lá nhỏ, trong xuồng “vẻn vẹn một lọn nhang trần và một hủ rượu”. Năm Hên xuất hiện bằng một bài hát nghe “ảo não, rùng rợn” như một bài cầu hồn. Tiếng hát của ông lão vang lên trên con rạch theo nhịp bơi xuồng tới lui từ sớm tới chiều: “Hồn ở đâu đây? Hồn ơi? Hồn hỡi? – Xa cây xa cối – Xa cội xa nhành – Đầu bãi cuối gành – Hùm tha, sấu bắt…”. Bài hát gợi lên màu sắc bi tráng của thiên truyện, góp phần gợi tả tính chất kì bí của nhân vật Năm Hên.

    Năm Hên xuất hiện với bao mong đợi của bà con vùng Khánh Lâm. Chẳng có vũ khí, chẳng có đồ nghề… Một đoạn đối thoại rất hay để giới thiệu Năm Hên là thợ bắt sấu chứ không phải tay câu sấu. Và ông ta chỉ “bắt sấu trên khô”, bắt sấu “bằng… hai tay không”. Tuy bà con vùng Khánh Lâm “nửa tin nửa nghi” nhưng ai nấy đều khâm phục người “bắt sấu bằng tay không quả là phi phàm, thế gian hi hữu”. Ông Năm Hên chẳng phải là một kẻ khoác lác mà là con người đi bắt sấu vì việc nghĩa, chưa hề “nói láo để lường gạt” hoặc “mở miệng xin tiền bạc cơm gạo gì” của xóm Khánh Lâm này, của bất cứ ai. Đó là hình ảnh một con người trọng nghĩa khinh tài sống giữa cộng đồng bà con nông dân Nam Bộ xưa và nay. Ông nói: “Nghề bắt sấu có thể làm giàu được, ngặt tôi không mang thứ phú quới đó”. Tiếng nói ông Năm Hên, cách ứng xử của ông trong nghề bắt sấu khác nào tâm thế ông Ngư trong “Truyện Lục Vân Tiên” của cụ Đồ Chiểu ở thế kỉ XIX:

    Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ

    Dốc lòng nhân nghĩa há chờ trả ơn.

    Nước trong rửa ruột sạch trơn

    Một câu danh lợi chi sờn lòng đây”.

    Con người của Nam Hên được hé lộ dần. Ông mang một nỗi đau, một mối thù đối với loài sấu hung dữ. Mười hai nãm về trước, người anh trai của ông đi phá rừng lập rảy tại Gò Quao, đã bị sấu ở Ngã Ba Đình bắt mất. Ông đi bắt sấu là để thực hiện một lời thề với vong linh người anh, như ông nói: “Tôi thề quyết trả thù cho anh”, ở đâu có sấu là ông đi tới. Ông “cực lòng” khi nghe tên những con rạch, ngã ba mang tên Đầu Sấu, Lưng Sấu, Bàu Sấu…, đó là những “nơi ghê gớm”, hồi xưa đất còn hoang “sấu lội nhiều”… Vùng đất dữ đó, nhiều người mới chỉ nghe nói đến đã ghê sợ, rụng rời cả chân tay.

    Ông Năm Hên đi bắt sấu ở ngọn Cái Tàu chỉ có một mình, có thêm Tư Hoạch dẫn đường vào ao sấu. Quá ngọ thấy một làn khói đen bốc lên ở phía ao sấu u Minh Hạ, ban đầu ngỡ cháy rừng, chập sau khói lụn xuống. Trời vừa xế, Tư Hoạch đã giong 45 con sấu “còn sống nhăn” trở về. Tư Hoạch reo lên: “Diệu kế! Diệu kế!… Một đời người mới có một lần”. Nhìn đàn sấu “con này buộc nối đuôi con kia đen ngòm như khúc cây khô, dài… hai chân thúc ké trên lưng…” quạt nước bơi theo con thuyền Tư Hoạch, bà con cô bác Khánh Lâm vô cùng ngạc nhiên. Người thì “há miệng sửng sốt rồi toan chạy vào nhà trốn”, người thì “khấn vái lâm râm…”, có người lại bơi xuồng ra giữa sông hỏi han Tư Hoạch “rối rít”.

    Nhà văn Sơn Nam đã khéo léo “hãm chuyện”, cho bà con xứ Khánh Lâm nhìn thấy đàn sấu bị bắt đem về, rồi mới nghe Tư Hoạch kể lại chuyện ông Năm Hên bắt sấu, để làm cho câu chuyện trở nên hồi hộp, thú vị. Đến ao sấu ông Năm Hên đi vòng quanh dòm địa thế, rồi ngồi xuống uống rượu thật ung dung. Ông chỉ nhờ Tư Hoạch bứt cho một nắm dây cóc kèn để trói sấu. Còn bao nhiêu công việc như đào một đường nhỏ từ ao sấu lên rừng đến chuyện chặt mốp thành từng khúc, từ chuyện đốt sậy để xua dàn sấu đến chuyện đút khúc mốp vào miệng sấu, lấy mác cắt gân đuôi và trói sấu… một mình ông làm tất. Cả bầy sấu 45 con đéu bị ông Năm Hên bắt hết không sót một con nào! Đúng như ông nói: “Tôi đây… chẳng qua là biết mưu mẹo một ít…”. Bà con xứ Khánh Lâm thì trầm trồ, khâm phục: “Thực là bực thánh của xứ này rồi? Mưu kế như vậy thực quá cao cường!…”. Cả xóm muốn “đền ơn ổng một số tiền, nuôi ổng cho tới già”… Ông Năm Hên không chỉ mưu trí dùng hỏa công để lùa sấu theo kế “điệu hổ li sơn”, dẫn sấu vào tử lộ, dùng mốp để khóa miệng sấu, mà ông còn rất dũng cảm khi đối diện với đàn sấu hung hăng đòi táp. Ông đã bình tĩnh đút từng khúc mốp vào miệng lũ sấu dữ hung hăng.

    Nhà văn để ông Năm Hên “cúng đất đai vương trạch” rồi đi bộ về phía sau là một tình tiết đặc sắc tung và hứng rất chặt chẽ. Lần thứ hai, tiếng hát cầu hồn của ông Năm Hên lại cất lên nghe ảo não, rùng rợn:

    Hồn ở đâu đây?

    Hồn ơi! Hồn hỡi!…

    Cùng với tiếng hát cầu hồn, giải oan, là hình ảnh ông Năm Hên “áo vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay “… gợi lên không khí thiêng liêng, dân dã, kì bí, cổ kính. Người đọc cảm thấy những oan hồn bị “hùm tha, sấu bắt” đang kéo về bến sông nhìn đàn sấu bị ông Năm Hên bắt và khóc sụt sùi. Hình như có biết bao oan hồn đang chập chờn trên sông nước, đang chạy theo chiếc xuồng ba lá của ông Năm Hên.

    Truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” có dáng dấp riêng, khó lẫn. Chi tiết rất gợi không khí hoang dã, ngôn ngữ đậm đà màu sắc Nam Bộ, cách dựng truyện li kì. Nếu thiếu đi bài hát cầu hồn, câu chuyện sẽ kém phần thiêng liêng, cổ kính và kì bí. Hình ảnh ông Năm Hên, một thợ già bắt sấu dũng cảm, mưu trí, trọng nghĩa khinh tài, chất phác… cho ta nhiều ấn tượng. Ông là hình ảnh người nông dân Nam Bộ đi bắt sấu để chinh phục thiên nhiên, vì hạnh phúc con người và quê hương. “Bắt sấu U Minh Hạ” như một đoản thiên phiêu lưu kí sáng giá.

   Sơn Nam là một nhà văn có lối kể chuyện mộc mạc, giản dị mà sang rõ mang nét riêng độc đáo của cảnh vật, tính cách con người được vẽ phác bằng đôi nét đơn sơ mà thấm đượm màu sắc Nam Bộ. Tiêu biểu cho phong cách ấy là tác phẩm “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”, nhà văn đã dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác qua cuộc truy bắt cá sấu của ông Năm Hên.

    Câu chuyện xoay quanh nhân vật Năm Hên – một ông già làm nghề bắt cá sấu. Năm Hên mang đậm nét tính cách của người dân Nam Bộ trong buổi đầu đi tìm đất mới để sinh cơ lập nghiệp. Trước hết, ông là một người thật thà, đôn hậu, giản dị, khiêm tốn. Tuy cung cách xuất hiện của ông rất lạ: “Trong xuồng, vỏn vẹn có một lọn nhang trần và một hũ rượu. Từ sớm đến chiều, ông bơi xuồng tới lui theo con rạch mà hát”. Lại nữa, bài hát ông nhe sao “ảo não rùng rợn” như thể đang dụ dỗ một linh hồn oan khuất nào đó. Nhưng khi thấy bà con có vẻ nghi ngờ, thiếu tin tưởng về cách bắt sấu bằng tay không của mình, ông Năm Hên đã thật thà bộc bạch: “Tôi đây không tài giỏi chi hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như người khác thì họ nói là bù phép đê kiếm tiền…”

    Ông là một người trọng nghĩa khinh tài. Là một con người thật thà, đôn hậu, ông Năm Hên hành động vì nghĩa, không mang lợi lộc gì cho mình. Ông tâm sự: “Nghề bắt sấu có thể làm giàu được, ngặt tôi không màng thứ phú quý đó”. Người đọc hiểu ra, khi mới đến đây xưng tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp, ông đã cải chính cách gọi về nghề nghiệp của mình là “bắt sấu” chứ không phải “câu sấu” là thể hiện sự ẩn giấu một niềm tự hào thầm kín về công việc của mình, một công việc hoàn toàn vì nghĩa. Ông thấy việc cần là làm, thấy người hoạn nạn là không ngại hiểm nguy ra tay giúp đỡ, chẳng chút tính toán thiệt hơn: “không màng thứ phú quý đó”.

    Ông còn là một người tài trí hơn người. Cảnh bắt sấu của ông được Tư Hoạch kể lại quả thật tài tình: “lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy đế trong ao. Chập sau, bị khói cay vào mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy… Ổng đút vô miệng sâu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng: như mình ngậm một khúc mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được… Ông Năm xách cây mác, nhắm ngay sau lưng sấu ,mà sắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Đuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dâu cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình…” Nghe chuyện này có người đã nhận xét: “Thực là bậc thánh nhân của xứ này rồi! Mưu kế như vật quả thực cao cường”.

    Cũng qua lời tuồng thuật của Tư Hoạch, ai cũng thất rõ ông Năm Hên là người rất dũng cảm. Phải dũng cảm mới giữ vững được thái độ bình tĩnh trước loài cá sấu dữ mà chẳng chút nao lòng “sợ sấu há miệng hung hăng đòi táp”. Chính nhờ lòng dũng cảm, bình tĩnh, nên ông đã đánh bại được đàn cá sấu ăn thịt người. Bốn muôi lăm con cá sấu bị ông thòng cổ cho người xuôi chở về. Loài thủy quái ấy ngoan ngoãn phục tùng cứ như là đã được thuần dưỡng rồi vậy. Với lòng dũng cảm, ông thục sự đã trở thành anh hùng cửa vùng đất hoang dại này.

    Ông còn là một người mang tâm sự u uất. Hãy nghe ông bày tỏ gia cảnh: “Cha mẹ tôi sanh ra chỉ có hai anh nem tụi tôi… Ảnh bị cá sấu ở Ngã ba Đình bắt mất”. Đây là một tổn thất lớn lao đối với ông. Bởi vậy ông thề quyết trả thù cho anh mình. Mười hai năm trôi qua, mối t hù ấy vẫn chưa giờ phút nào nguôi trong lòng ông. Cảnh cá sấu xuất hiện ở rừng nhiều như trái mù u chín rụng lúc này đã gợi lên trong lòng ông một nỗi đau nhức nhối tâm can, một nỗi cực lòng như chính ông đã chân thành bộc bạch với dân làng. Tâm sự đó ông gửi vào lời hát:

    “Hồn ở đâu đây?……

    Lập đàn giải oan….”

    Bài hát của ông Năm Hên đã tạo không khí bí hiểm và có phần rùng rợn cho câu chuyện. Nhà văn miêu tả giọng hát của ông ảo não, rùng rợn: “Tiếng như khóc lóc, nài nỉ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai”. Nội dung bài hát buồn thảm không chỉ là nỗi tiếc thương của ông đối với người anh xấu số của mình mà đó còn là tiếng chiêu hồn tưởng nhớ đến, gọi về biết bao mảnh hồn người xa xứ vì “thắt ngặt manh áo chén cơm” Giữa Cảnh “U Minh hạ đỏ ngòm, rừng tràm xanh biếc” đã phải thiệt mạng cho “hùm tha, sấu bắt…” Hình ảnh thảm thương đầy bí ẩn của ông ở cuối truyện, sau khi bắt được đàn sấu: “áo rách vai, tóc rối mù, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay”, cứ tưởng như ông đang nhập đồng. phải chăng ông thay mặt cho dân làng ở đây hát lên bài kinh “cầu siêu”, tựa như lời gọi hồn giải oan cho những linh hồn bị “hùm tha sấu bắt”, cho biết bao oan hồn uổng tử đã vất vưởng lang thang nơi “đầu bãi, cuối gành” trong cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn bao đời nay cho cư dân ở đây.

    Qua truyện “Bắt sấu rừng U Minh Hạ”, chúng ta có dịp hiểu thêm về thiên nhiên vùng đất Nam Bộ – nơi vốn được coi là rừng vàng bể bạc với những cánh đồng lúa mênh mang thẳng cánh cò bay, là tài sản vô giá của đất nước Việt Nam… Chúng ta cũng hiểu thêm về cuộc sống tài trí, tính cách của người dân ở đây và công lao của họ đối với việc mở mang bờ cõi đất nước.

 

Bài giải này có hữu ích với bạn không?

Bấm vào một ngôi sao để đánh giá!

Đánh giá trung bình 5 / 5. Số lượt đánh giá: 1006

Chưa có ai đánh giá! Hãy là người đầu tiên đánh giá bài này.

--Chọn Bài--

Tài liệu trên trang là MIỄN PHÍ, các bạn vui lòng KHÔNG trả phí dưới BẤT KỲ hình thức nào!

Tải xuống